Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search







bếp điện từ



bếp từ đôi
 

Chi tiết tin

Lịch sử Đảng bộ xã Trà Linh

Lượt xem: 2188



                        

LỜI MỞ ĐẦU 

Trà Linh - nơi đầu nguồn của dòng sông Tranh, dòng Thu Bồn, ngày ngày miê%3ḅt mài đổ về xuôi bồi đắp phù sa cho những cánh đồng xanh tươi. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Trà Linh đã hình thành trong đồng bào Xêđăng mô%3ḅt nghị lực sống phi thường, đó là sự kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh chống chọi với thiên nhiên khắc nghiê%3ḅt, lâ%3ḅp nên nóc, nên làng, tạo tiền đề cho thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước trường tồn đến mãi ngày hôm nay.

Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược đất nước ta, chúng đã từng bước thiết lập bộ máy chính quyền tay sai ở vùng núi phía tây của tỉnh Quảng Nam, tiến hành đàn áp, vơ vét, bóc lột đồng bào miền núi. Trước sự tàn bạo, dã man của kẻ thù, tinh thần dân tộc và lòng căn thù trong mỗi người Xêđăng được thổi bùng lên, cùng với các dân tộc anh em trong huyện đoàn kết một lòng, chung sức chống lại kẻ thù xâm lược, giành lại quyền làm chủ núi rừng.

Từ những ngôi làng với cuộc sống bình yên, ẩn mình dưới những cánh rừng đại ngàn đã được biến thành những làng chiến đấu vững chắc. Với phương châm lấy ít địch nhiều, dùng chiến thuật “vườn không, nhà trống”, chiến tranh du kích do Đảng ta truyền bá và chỉ dẫn, họ đã làm nên những chiến thắng vang vọng núi rừng, làm cho kẻ thù bao phen khiếp vía.

Sau khi Hiệp định Gơ-ne-vơ được ký kết, từ một vùng tự do của Khu 5, Trà Linh lại rơi vào ách thống trị của bọn đế quốc Mỹ và tay sai. Bọn chúng đã dùng nhiều thủ đoạn, với những chính sách thâm độc nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của đồng bào đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nạn “ăn đầu, trả đầu” lâu nay được giải quyết, giờ lại bùng phát. Trước tình hình đó, Đảng ta đã đưa hàng chục cán bộ ở miền xuôi lên tăng cường cho vùng miền núi, thực hiện “3 cùng” với đồng bào, tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia cách mạng. Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, lòng tin của đồng bào dân tộc miền núi đối với Đảng được củng cố vững chắc. Đồng bào đã từng bước tiếp thu ánh sáng của Đảng, giác ngộ cách mạng, cùng chung sức, chung lòng đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Bằng sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, tình yêu núi rừng và một lòng thuỷ chung, son sắt với Đảng, đồng bào Xêđăng xã Trà Linh cùng với các dân tộc anh em trong huyện, với bộ đội chủ lực của Khu 5, đã làm nên những chiến công vang dội, có tính chất bước ngoặt, đánh bại những cố gắng cuối cùng của đế quốc Mỹ ở miền tây đất Quảng Nam, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất hai miền Nam Bắc.

Ban Chấp hành Đảng bô%3ḅ xã Trà Linh xin trân trọng giới thiệu cuốn sách Lịch sử Đảng bộ xã Trà Linh (1945 - 2010) đến đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân trong xã và đồng bào các dân tộc trong huyện cùng đô%3ḅc giả. Hy vọng cuốn sách sẽ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng của các thế hệ cha ông trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân xã nhà, nhất là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, qua đó, tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống quý báu đó trong công cuộc xây dựng quê hương ngày càng ấm no, hạnh phúc và giàu đẹp.

Trong quá trình sưu tầm và biên soạn, do những điều kiện khách quan và chủ quan, nên không thể tránh khỏi được những thiếu sót nhất định. Vì vậy, Ban Chấp hành Đảng bô%3ḅ xã và bộ phận biên tập rất mong nhận được sự đóng góp, góp ý của các bậc lão thành cách mạng, những cá nhân, học giả nghiên cứu và các độc giả để công trình được hoàn thiện trong việc tái bản lần sau.

                                                                ĐẢNG BỘ XÃ TRÀ LINH


Chương 1

VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI - TÌNH YÊU NÚI RỪNG GẮN VỚI

TINH THẦN YÊU NƯỚC TRƯỚC THÁNG 8 NĂM 1945

 

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TỘC NGƯỜI.

1. Điều kiện tự nhiên.

Trà Linh là một xã miền núi cao của huyện Nam Trà My, nằm ở phía tây của tỉnh Quảng Nam. Phía đông giáp với xã Ngọc Lây (huyện Tu Mơ Rông - tỉnh Kon Tum), phía tây và phía nam giáp với xã Mường Hon (huyện Đak Glei - tỉnh Kon Tum), phía bắc giáp với xã Trà Cang và xã Trà Nam (huyện Nam Trà My).

Địa hình của xã Trà Linh chủ yếu là đồi núi cao với những dải đất hẹp, bị chia cắt bởi những nhánh núi đâm ngang theo hướng tây - đông, nằm trong hệ thống của khối núi cao Ngọc Linh. Ở khu vực có cấu tạo địa chất đang vận động mạnh mẽ nên hình thành nhiều đỉnh núi cao, điển hình là đỉnh Ngọc Linh[1], với độ cao 2.598m, thuộc hai làng Măng Lùng và Tu Dí, được xếp vào một trong những đỉnh núi cao nhất ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Nằm ở vị trí địa lý quan trọng, núi cao hiểm trở, là nơi tiếp giáp giữa Tây Nguyên và đồng bằng duyên hải miền Trung. Vì vậy, Trà Linh nói riêng và huyện Nam Trà My nói chung đã trở thành vị trí chiến lược về mặt quân sự mà các thế lực thù địch luôn quan tâm nhòm ngó; nơi đây được xem như là bàn đạp để kẻ thù đẩy mạnh quá trình xâm lược, cai trị và đàn áp phong trào cách mạng của chiến trường Khu 5.

Với diện tích tự nhiên là 6.327,73 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp phục vụ cho sản xuất, trồng trọt là 216,92 ha; đất chuyên dùng là 10,87 ha, đất sông suối, mặt nước là 63,56 ha, đất chưa sử dụng khoảng 3.006,20 ha. Do vẫn giữ được tính hoang sơ và nguyên thủy nên độ che phủ của rừng ở Trà Linh vẫn còn khá lớn với diện tích là 2.962,96 ha.

Địa hình của Trà Linh vô cùng phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều sông, suối; địa thế cao nên có khá nhiều đèo, dốc hiểm trở. Độ dốc trung bình là trên 25%, chiếm 80% diện tích của toàn xã. Tại đây có sự đan xen giữa các loại địa chất khác nhau, đó chính là những nhánh núi hình cánh cung chạy theo hướng đông - tây, nam - bắc, thấp dần về phía tây nam; xen kẽ vào đó là những thung lũng nhỏ, hẹp, cộng với những dòng suối nhỏ nên hình thành một bức tranh thiên nhiên rất sôi động. Tuy nhiên, với những bất lợi về địa hình đã khiến cho cuộc sống của đồng bào nơi đây gặp rất nhiều khó khăn, vất vả trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt thường ngày, cũng như gây trở ngại cho việc phát triển hạ tầng kỹ thuật.

Nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa nên khí hậu quanh năm khá mát mẻ, nhiệt độ trung bình của xã Trà Linh thường thấp hơn các nơi khác, vào khoảng 20oC, nhiệt độ cao nhất vào mùa nắng (tháng 5 - 6) là 38oC, nhiệt độ thấp nhất vào mùa mưa (tháng 9 - 10) vào khoảng 16oC, nên độ ẩm trung bình trên 85%. Một năm nơi đây chia làm hai mùa rõ rệt, mùa khô (từ tháng 4 đến tháng 7), là những tháng diễn ra hoạt động của gió phơn tây nam; mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau), thường có gió mùa đông bắc hoạt động. Do vậy lượng mưa trung bình hàng năm thường rất cao, từ 900mm đến 1000mm, có lúc đến 2.500mm, vì vậy thường xuyên xảy ra các trận lũ quét, lũ ống, sạt lở núi với khối lượng đất đá và cây cối lớn, gây nhiều tổn thất về người và tài sản, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc trong xã.

Nằm ở phía đông của dãy Trường Sơn nên xã Trà Linh thường bị ảnh hưởng của hai loại gió chính, chủ yếu là gió Phơn tây nam thổi từ phía tây sang nên làm cho không khí vào mùa nắng trở nên ngột ngạt hơn, sự hoạt động mạnh mẽ của loại gió này trong những tháng nắng đã thường xuyên gây nên việc thiếu nước, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất của nhân dân địa phương. Gió mùa đông bắc cũng có những tác động không nhỏ, hình thành nên một vùng khí hậu đặc trưng của Trà Linh, với loại gió này thường mang theo các đợt mưa phùn, làm cho thảm thực, động vật trở nên phong phú, đa dạng. Đặc biệt, nơi đây là điều kiện để cây sâm K5[2] - một loại thảo dược có giá trị to lớn không ngừng phát triển; ngoài ra còn có những loại thảo dược khác như sâm Quy, sâm Nam, Sơn Tra…

Có thể nói Trà Linh là nơi bắt nguồn của các dòng sông lớn. Chảy len lách trong các dãy núi cao của khối núi Ngọc Linh chính là những con suối nhỏ luôn cung cấp nguồn nước cho các con sông vùng đồng bằng. Trên địa bàn xã có hai con sông chính đó là sông Nước Na và sông Nước Xiêng, do nằm ở đầu nguồn nên có độ dốc cao, trữ lượng nước cũng không quá lớn so với hệ thống lưu vực sông. Trong đó, lớn nhất là con sông Nước Na bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Linh của xã Mường Hon (tỉnh Kon Tum), chảy qua địa bàn xã Trà Linh trải dài khoảng 30km, có độ dốc cao và lượng nước thay đổi theo mùa. Vào mùa khô, lượng nước thấp, mùa mưa thì lượng nước dâng cao rất nhanh nhưng cũng rút nhanh. Ngoài hai con sông chính trên thì có hàng trăm con suối nhỏ được đồng bào đặt cho những tên gọi bản địa trìu mến, chảy len lách trên những đỉnh núi cao, đổ về sông Tranh rồi chảy về xuôi cung cấp nước cho sông Thu Bồn.

2. Địa lý hành chính.

Vùng đất Trà Linh thuộc huyện Nam Trà My ngày nay, trước khi có danh xưng Quảng Nam (1471) là một phần lãnh thổ nằm dưới quyền quản lý của vương quốc Chăm pa. Năm 1306, khi công chúa Huyền Trân của nhà Trần được vua Chiêm là Chế Mân cưới về làm vợ, phần đất phía Nam đèo Hải Vân cho đến bờ bắc sông Thu Bồn, vốn là đất của con cháu các vua Hùng là sính lễ được trở về lại với bản đồ Tổ quốc[3]. Miền Tây Quảng Nam - vùng thượng nguồn các con sông Thu Bồn, Vu Gia, Tam Kỳ (địa bàn các huyện miền núi Quảng Nam ngày nay, trong đó có Trà Linh) được đặt tên là trấn Tân Ninh[4]. Như vậy, sau thời nhà Hồ năm (1402), toàn bộ vùng đất Quảng Nam ngày nay đã thuộc về nước Đại Việt dưới thời trị vì của Lê Lợi năm 1428.

Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập ra đạo thừa tuyên Quảng Nam, gồm 3 phủ: Thăng Hoa (Quảng Nam), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (Bình Định), vùng đất Trà Linh, huyện Nam Trà My ngày nay thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa[5].

Năm 1906, vua Thành Thái đã ban chiếu dụ đổi huyện Hà Đông thành phủ Hà Đông, sau đó đổi thành phủ Tam Kỳ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Trà Linh thuộc vùng đất Trà My[6]. Ngày 20/6/2003, theo Nghị định 72 của Chính phủ, Trà My được chia tách thành hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My, xã Trà Linh thuộc huyện Nam Trà My cho đến ngày nay.

Về đơn vị hành chính trước năm 1945: xã Trà Linh gồm có 4 thôn: thôn 1 (gồm các nóc Tak Ring, Tak Pan, Kang Kit…) thôn 2 (gồm các nóc Tak Ngo, Cam Pin, Măng Lùng, Ki roang, Lon Lái)[7], thôn 3 (gồm các nóc Tak Lang, Mu Mau, Tak Tư), thôn 4 (gồm các nóc Tu Tông, Tu Don).

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, do những thời điểm lịch sử khác nhau nên xã Trà Linh có những thay đổi về tên gọi, số làng và tên làng; rất nhiều làng vì do điều kiện chiến tranh, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và những trận dịch bệnh lớn nên đã bị mất đi vĩnh viễn, chỉ còn lại trong tâm trí của một số cụ già trong làng.

Từ ngày 17 đến ngày 19/3/1947, theo chủ trương của Tỉnh uỷ Quảng Nam, Đại hội thành lập châu và Uỷ ban hành chính châu Trà My được tổ chức tại đồn Trà My[8]. Tháng 10/1948, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định thành lập huyện Trà My, gồm 14 xã, Trà Tak Bền[9] thuộc huyện Trà My. Để đối phó với phong trào cách mạng của nhân dân ta, thực dân Pháp đã thiết lập một số cơ sở “gum”[10], tề ở khu vực Trà Tak Bền. Trước những âm mưu mới của địch, tháng 6/1951, Trà Tak Bền được tách ra làm hai xã: Trà Tak Bền (Bắc Bền) và Trà Kon Sall (Nam Bền).

Trong Đại hội Đảng bộ tỉnh năm 1960, sau khi nhận định tình hình cấp bách của cuộc chiến, cần phải xây dựng các khu vực núi phía tây Quảng Nam thành căn cứ địa cách mạng, đảm bảo cho công cuộc giải phóng miền Nam trong giai đoạn mới và phát hiện ra âm mưu của bọn đế quốc Mỹ muốn mở rộng xây căn cứ, uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân, các dân tộc thiểu số, nên đã đưa ra quyết định sát nhập hai huyện Trà My và Phước Sơn thành huyện Trà Sơn, chia làm 6 khu hành chính, lúc này thì Bắc Bền thuộc Khu 4 cùng với Nam Bền và xã Cang.

Tháng 3/1963, trước yêu cầu ngày càng cao của công tác chỉ đạo miền núi, Tỉnh ủy Quảng Nam[11] chủ trương giải thể huyện Trà Sơn để thành lập các Khu. Huyện Trà Sơn chia làm ba khu: Khu 1, Khu 2, Khu 3. Về sau bỏ tên gọi Khu và gọi là huyện. Khu 2 gọi là huyện Bắc Trà My (phần đất phía Bắc của sông Tranh thuộc huyện Trà My cũ), gồm các xã Nam Bền, Bắc Bền, Cang, Tập, Iếp, Leng, Xiêm Rang, Đốc, Pui.

Năm 1970, Khu uỷ 5 đã ra chủ trương thành lập một khu đặc biệt, với mật danh là Khu A, và được chia làm 4 khu, tro