Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search







bếp điện từ



bếp từ đôi
 

Chi tiết tin

Lịch sử Đảng bộ Xã Trà Mai

Lượt xem: 5975

Nằm trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, xã miền núi cao Trà Mai phải gánh chịu và đương đầu với sự khắc nghiệt của thiên tai, hạn hán, mất mùa, đời sống khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Không chịu khuất phục trước thiên nhiên, đồng bào nơi đây đã lao động bền bỉ, đời sau nối tiếp đời trước đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để lập nên nóc, nên làng. Qua những thăng trầm của lịch sử đã bồi đắp cho đồng bào các dân tộc xã Trà Mai một truyền thống quý báu, đó là tinh thần cần cù lao động, thật thà, chất phác, sắt son chung thủy và lòng yêu nước nồng nàn.


Quan cảnh hội thảo

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG BỘ XÃ TRÀ MAI

LỊCH SỬ

ĐẢNG BỘ XÃ TRÀ MAI

(1945 - 2010) 

Tháng 10 năm 2010


CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

Ban Thường vụ Huyện uỷ Nam Trà My

CƠ QUAN QUẢN LÝ

Ủy ban nhân dân huyện Nam Trà My

Phòng Công thương huyện Nam Trà My

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Nguyễn Thanh Tòng

Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy

CƠ QUAN TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Nam Trà My

Ban Chấp hành Đảng bộ xã Trà Mai

SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN

Trần Duy Dũng

Đậu Đình Hà

Nguyễn Đình An

Nguyễn Văn Thi
LỜI GIỚI THIỆU

Nằm trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, miền núi cao Trà Mai phải gánh chịu và đương đầu với sự khắc nghiệt của thiên tai, hạn hán, mất mùa, đời sống khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Không chịu khuất phục trước thiên nhiên, đồng bào nơi đây đã lao động bền bỉ, đời sau nối tiếp đời trước đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để lập nên nóc, nên làng. Qua những thăng trầm của lịch sử đã bồi đắp cho đồng bào các dân tộc xã Trà Mai một truyền thống quý báu, đó là tinh thần cần cù lao động, thật thà, chất phác, sắt son chung thủy và lòng yêu nước nồng nàn.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi đây đã từng được Liên khu ủy 5 chọn làm địa bàn đứng chân và xây dựng thủ đô kháng chiến của khu vực miền Trung Trung bộ và Tây nguyên. Huyện Nam Trà My nói chung và xã Trà Mai nói riêng có rừng núi hiểm trở, địa hình khá phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Tuy núi không cao lắm, nhưng với những cánh rừng đại ngàn che phủ, địa hình bị sông suối chia cắt. Phía đông nam có đường nối liền với huyện Sơn Hà của tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp với Kon Tum, đông bắc là trung du và vùng đồng bằng Quảng Nam. Cả khu vực rộng lớn này chỉ có vài nơi tương đối bằng phẳng với diện tích khoảng vài nghìn mét vuông. Đây là một địa bàn có vị trí chiến lược để Liên Khu ủy 5 xây dựng Nước Là thành căn cứ vững chắc, nơi khởi đầu cho sự lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ lâu dài và đầy cam go trên chiến trường Liên khu 5. Còn với địch, vùng rừng Trà Mai như là một ma trận, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao hùng vĩ như Ngọc Linh, Ngọc Kiếp Cang, Ngọc Lập, Ngọc Mai... Nếu đặt chân đến nơi này thì địch phải đối mặt với tình thế “có đi không về”...

Với những dải đất hẹp và phì nhiêu ven sông suối phục vụ cho sản xuất lương thực; có cua đá, cá suối, môn thục, rau dớn và các loại rau rừng... đã trở thành nguồn thực phẩm dồi dào; có chỗ tiếp nhận và phân tán lực lượng cán bộ và bộ đội chủ lực từ miền Bắc chuyển vào; trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng đất nặng nghĩa tình này đã luôn tin tưởng và một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng. Chính vì vậy mà Nước Là thuộc địa bàn xã Trà Mai được Liên Khu ủy 5 nhanh chóng xây dựng thành căn cứ địa vững chắc và an toàn.

Sau khi đất nước sạch bóng quân thù, hai miền Bắc Nam sum họp, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Trà Mai đã chung tay với huyện nhà ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Những kết quả đạt được của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Trà Mai qua 35 năm giải phóng vẫn còn khiêm tốn. Song, Đảng bộ và nhân dân Trà Mai tin tưởng rằng, với truyền thống quý báu trong đấu tranh giải phóng dân tộc, với tình yêu quê hương, yêu núi rừng, Trà Mai sẽ nhanh chóng trở thành điểm sáng của huyện miền núi Nam Trà My, xứng đáng với truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường cũng như với danh hiệu cao quý là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đã được Đảng và Nhà nước phong tặng.

Được sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy Nam Trà My tổ chức sưu tầm, biên soạn tập sách Lịch sử Đảng bộ xã Trà Mai (1945 - 2010). Đây là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Tập sách không chỉ nhằm ghi lại truyền thống lịch sử quý báu của địa phương trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, trong lao động sản xuất mà còn có ý nghĩa góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Xin trân trọng giới thiệu tập sách Lịch sử Đảng bộ xã Trà Mai (1945 - 2010) đến đông đảo cán bộ, đảng viên và bạn đọc.

                                           BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ TRÀ MAI


LỜI NÓI ĐẦU

Trà Mai là một xã trung tâm của huyện miền núi cao Nam Trà My. Nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Nam, Trà Mai có địa hình khá phức tạp, núi non hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn. Con người nơi đây có một truyền thống quý báu, đó là bản tính thật thà, cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất, tình yêu núi rừng và lòng căm thù giặc sâu sắc.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng bào các dân tộc Trà Mai đã một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ để làm cách mạng. Đặc biệt, nơi đây đã được Liên Khu ủy 5 chọn làm căn cứ địa cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ; đồng bào đã không ngại hy sinh xương máu, hết lòng nuôi giấu, che chở, đùm bọc cán bộ, đóng góp của cải, vật chất cho cách mạng, đấu tranh đánh đuổi kẻ thù xâm lược cho đến ngày toàn thắng.

Nhằm ghi lại phong trào đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, chính quyền và đồng bào dân tộc xã Trà Mai qua các thời kỳ cách mạng, dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Nam Trà My, Ban Tuyên giáo Huyện ủy phối hợp với Đảng bộ xã Trà Mai tổ chức biên soạn tập sách Lịch sử Đảng bộ xã Trà Mai (1945 - 2010). Thông qua việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, làm phong phú nguồn tư liệu trong việc giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân xã nhà, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau; qua đó, tiếp tục phát huy truyền thống quý báu trong chống giặc ngoại xâm, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần học tập và hăng say lao động, góp phần xây dựng quê hương Trà Mai ngày càng giàu đẹp.

Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn tập sách, Ban biên tập đã có sự nỗ lực rất lớn để hoàn thành tập sách. Trong đó có sự nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện của các đồng chí lão thành cách mạng đã công tác, chiến đấu tại huyện Trà My nói chung và xã Trà Mai nói riêng, các đồng chí lãnh đạo xã qua các thời kỳ và các nhân chứng sống khác. Bên cạnh đó, Ban Biên tập đã tích cực sưu tầm các nguồn tư liệu như các báo cáo, văn kiện, lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện, những tập hồi ký, bút ký và các tài liệu liên quan. Ban Biên tập đã sử dụng những nguồn tư liệu chính thống và cả những tư liệu không chính thống để so sánh, đối chiếu, giúp cho quá trình biên soạn không bị ngắt quãng và làm cho nội dung tập sách thêm phong phú.

Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn chung của xã miền núi cao, giao thông đi lại khó khăn; trong những năm tháng kháng chiến cũng như thời kỳ đầu khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước, công tác lưu trữ chưa được quan tâm đúng mức, nguồn sử liệu ngày càng mai một, thậm chí bị gián đoạn, có những giai đoạn không có tư liệu; các nhân chứng sống tuổi cao, sức yếu, trí nhớ không còn minh mẫn..., vì vậy chắc chắn không thể tránh khỏi được những thiếu sót. Chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến để tập sách được hoàn chỉnh khi được tái bản lần sau.

Ban biên tập chân thành cảm ơn các cơ quan, đơn vị và các cá nhân đã có những đóng góp để tập sách được hoàn thành.

BAN BIÊN TẬP


CHƯƠNG 1

VÀI NÉT VỀ ĐỊA LÝ, VĂN HÓA - XÃ HỘI VÀ TINH THẦN

YÊU NÚI RỪNG GẮN VỚI TINH THẦN YÊU NƯỚC

TRƯỚC THÁNG 8 NĂM 1945

I. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TỘC NGƯỜI

1. Địa lý tự nhiên

Trà Mai là một xã của huyện miền núi cao Nam Trà My, là trung tâm huyện lỵ. Phía đông giáp với xã Trà Giáp, phía bắc giáp với xã Trà Giác (huyện Bắc Trà My); phía tây giáp với xã Trà Tập và xã Trà Dơn; phía nam giáp với các xã Trà Cang, Trà Don, Trà Vân.

Diện tích tự nhiên: 9.960 ha, trong đó, diện tích đất có rừng là 5.234,12 ha; diện tích đất nhà ở là 28,32 ha; diện tích đất sản xuất là 166,54 ha, diện tích đất không sử dụng là 4.532,88 ha. Phần lớn diện tích của xã chủ yếu là đồi, núi cao, địa hình bị chia cắt bởi nhiều sông, suối và những thung lũng sâu nằm xen kẽ giữa các dãy núi.

Địa hình của xã khá phức tạp, nằm giữa những các dãy núi cao che chắn, bị chia cắt bởi nhiều sông, suối chằng chịt, có độ dốc lớn và chảy xiết. Độ cao trung bình của xã Trà Mai từ 400 - 500m. Núi cao nhất ở Trà Mai có tên gọi là núi Ngọc Mai với độ cao 1.175m (so với mực nước biển) thuộc 2 làng Tak Nầm, Tak Lang. Địa hình bị chia cắt bởi các sông, suối như Nước Là, Nước Ui và Suối Re, Tak H’nhing (thác 5 tầng), thấp dần về phía tây và phía bắc. Toàn xã có hai dạng địa hình chủ yếu là dạng núi cao và dạng thung lũng nhỏ. Khu trung tâm xã có làng Tak Pỏ, Tak Ngô, Tak Chươm, Tak Lang là những vùng có địa hình tương đối thuận lợi, có độ dốc thấp và dạng cánh cung, lượn sóng, tạo cho xã Trà Mai có những thung lũng khá màu mỡ.

Đất đai ở đây chủ yếu là loại đất đỏ Bazan và một diện tích nhỏ đất phù sa phân bổ dọc các con sông, suối. Tài nguyên trong lòng đất chủ yếu là vàng sa khoáng, nhưng trữ lượng thấp và phân bổ rải rác ở các lòng sông, suối.

Là địa bàn miền núi cao, ruộng đất ở đây phân bổ không đều, xen kẽ giữa những đất vườn nhà và đất thổ (đất do phù sa các sông, suối bồi đắp dọc hai ven bờ) là đất núi, đồi. Loại đất đỏ Bazan chiếm diện tích khá lớn, phù hợp cho việc trồng rừng và các loại cây lâu năm (cây công nghiệp). Đất phù sa chủ yếu là đất bồi đắp dọc theo các con sông Tranh, Nước Là, Suối Re, Nước Ui… phù hợp cho việc trồng lúa nước, bắp, đậu. Có những dãy ruộng bậc thang, chạy dọc theo các chân núi, ven sông, suối, diện tích không lớn.

Rừng có rất nhiều loại động vật, thực vật khá phong phú và đa dạng; trong đó có các loại động vật quý hiếm như: gấu ngựa, sơn dương, chồn bay, mèo rừng… Các loại gỗ quý hiếm như gõ, sến, sơn huyết. Đặc sản có trầm hương và quế - đặc sản được mệnh danh là “Cao sơn Ngọc Quế”. Ngoài ra, rừng còn có các loại song, mây, lồ ô, tre, nứa bạt ngàn, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến và thủ công truyền thống.

Sông, suối ở xã Trà Mai tương đối nhiều và phân bổ rộng khắp, như: sông Nam Nin (sông Tranh) bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Yêu, thuộc huyện Konplong, tỉnh Kon Tum chảy qua các xã Trà Nam, Trà Don, Trà Cang, Trà Mai và đổ xuống ngã ba sông Nước Xa; sông Nước Là bắt nguồn từ Trà Vinh chảy qua Trà Vân đến ngã ba sông Nước Là (điểm giáp cầu Nam Quảng Nam và sông Tranh); sông Nước Xa bắt nguồn từ thôn 2, xã Trà Vân qua thôn 3 xã Trà Mai xuống thôn 1, thôn 6 xã Trà Dơn (gần khu vực cầu Nước Xa). Các sông, suối này có tác dụng điều hoà lưu lượng dòng chảy của thượng nguồn sông Thu Bồn. Đặc biệt, con sông Nam Nin (sông Tranh - Đak Di) góp phần cân bằng hệ sinh thái môi trường trên địa bàn huyện Nam Trà My; đồng thời cũng góp phần điều tiết lưu lượng dòng chảy của sông Thu Bồn. Sông Tranh có chiều dài chảy qua địa bàn xã Trà Mai là 14,5km, chiều rộng trung bình của lòng sông khoảng 220m; hàm lượng phù sa của dòng sông Tranh khá lớn, nhất là về mùa lũ.

Về giao thông đường bộ: Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chỉ có con đường từ Trà My đi Nước Oa, Nước Sen lên làng Gò Oai đến Nước Xa, thẳng lên Dốc Dược rồi rẽ qua các làng của xã Tu lên Trà Tak Rây, Trà Don. Đầu năm 1960, khi cơ quan Liên khu uỷ 5 chuyển đến đóng tại Nước Là, một số tuyến đường hành lang nối liền xã Trà Mai với đồng bằng Quảng Nam và Quảng Ngãi được hình thành. Đến năm 1963 - 1964, do yêu cầu tiếp tế cung cấp hàng hóa và lương thực từ Quảng Nam để phục vụ cho chiến trường Tây Nguyên, hành lang Nam Bắc và các căn cứ địa, ta đã mở tuyến đường bộ Nước Vin đi Nước Xa dọc theo sông Tranh qua Tak Pỏ, Trà Mai lên Trà Nam. Năm 1973, tiếp tục mở tuyến đường ô tô từ Trà My lên Tak Pỏ đến Trà Don. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, đặc biệt là từ năm 2003 khi chia tách Trà My thành hai huyện Nam Trà My và Bắc Trà My, giao thông ở vùng Trà My được chú trọng, nhiều tuyến đường được mở rộng, nâng cấp tạo điều kiện giao thương giữa đồng bằng với miền núi. Đường ĐT 616 chạy từ quốc lộ I (Tam Kỳ) qua địa phận xã Trà Mai gần 13 km; đường Đông Trường Sơn chạy qua xã Trà Mai gần 10 km (thôn 3); gối đầu vào trục đường chính có các con đường nhỏ nối liền các địa bàn từ Trà Mai qua Trà Tập, Trà Mai - Trà Don, Trà Mai - Trà Vân, Trà Mai - Trà Dơn (dọc theo đường tỉnh lộ ĐT 616) và các con đường đất đỏ về các thôn, tổng chiều dài là 47 km, tạo thành mạng lưới giao thông chằng chịt khắp xã. Bên cạnh đó, đường Nam Quảng Nam đi Kon Tum chạy qua địa phận xã Trà Mai với tổng chiều dài hơn 07 km (song song với đường ĐT 616 khu nội thị). Nằm ngay ở trung tâm của huyện nên Trà Mai là đầu mối thông thương giữa huyện với miền đồng bằng và Tây Nguyên, giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Nam Trà My.

Khí hậu mang đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa: gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm và gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình là 25,8oC; lượng mưa trung bình là 2015mm/năm; độ ẩm không khí trung bình là 80%; từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau luôn có sương mù. Hàng năm có trên 1.000 giờ nắng, lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá cao. Những yếu tố về khí hậu đã tạo điều kiện cho cây trồng phát triển.

Do tính chất và cấu tạo phức tạp của địa hình, đã hình thành cho Trà Mai có một lợi thế trọng yếu về quân sự và kinh tế, thuận lợi cho việc triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, nên từ rất sớm, địa bàn Trà Mai được chọn làm căn cứ an toàn của Liên Khu uỷ Khu 5 và Ban Quân sự khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Những ngôi làng như Tak Pỏ nằm bên cạnh Suối Re; làng Tak Chươm, Tak Râu nằm bên cạnh sông nước Nước Là - với đất đai màu mỡ, trong những năm kháng chiến đã được chọn làm nơi xây dựng tổ sản xuất vòng công, đổi công, đẩy mạnh phong trào hợp tác xã sản xuất, qua đó xây dựng thành điểm định canh, định cư, điểm vỡ ruộng của huyện, một mặt đảm bảo lương thực, thực phẩm cho nhân dân, mặt khác cung cấp cho cán bộ và bộ đội, góp phần không nhỏ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thành công.

2. Địa lý hành chính và đặc điểm tộc người

Trước khi có danh xưng Quảng Nam (1471), đất Trà Mai ngày nay là một phần lãnh thổ nằm dưới quyền quản lý của vương quốc Chăm pa. Đến năm 1306, khi công chúa Huyền Trân nhà Trần về làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, phần đất phía Nam đèo Hải Vân cho đến bờ bắc sông Thu Bồn, vốn là đất của con cháu các vua Hùng mới trở về lại với bản đồ Tổ quốc[1]. Miền Tây Quảng Nam - vùng thượng nguồn các sông Thu Bồn, Vu Gia, Tam Kỳ (địa bàn các huyện miền núi Quảng Nam ngày nay, trong đó có Trà Mai) được đặt tên là trấn Tân Ninh[2]. Như vậy, đến năm 1402 ở thời nhà Hồ, toàn bộ vùng đất Quảng Nam ngày nay đã thuộc về Đại Việt.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi chống quân xâm lược Minh thắng lợi (1427), dưới thời trị vì của nhà Hậu Lê, chế độ phong kiến Đại Việt được tổ chức hoàn chỉnh và đạt đến đỉnh cao của sự hưng thịnh dưới thời của vua Lê Thánh Tông, chủ quyền của Đại Việt đối với đất Quảng Nam mới dần dần được khôi phục. Kể từ năm 1471, sau cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông thắng lợi, Trà Mai là vùng đất trực thuộc huyện Hà Đông của đạo thừa tuyên Quảng Nam[3].

Năm 1907, một đạo dụ của vua Thành Thái đổi huyện Hà Đông thành phủ Hà Đông, rồi sau đó thành phủ Tam Kỳ. Năm 1920, thực dân Pháp cắt một số xã phía tây của phủ Tam Kỳ thành lập huyện Tiên Phước. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Trà Mai thuộc vùng đất Trà My[4]. Từ đó đến nay, trải qua bao biến động thăng trầm của lịch sử, xã Trà Mai chính thức trở thành một trong 10 xã của huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.

Xã Trà Mai còn có những tên gọi khác nhau qua các thời kỳ. Từ năm 1947 đến năm 1954 gọi là xã Trà Ngok Tu; trong kháng chiến chống Mỹ được gọi gọn thành xã Tu; năm 1960 gọi là xã Mai; đến năm 1975, Huyện uỷ chủ trương sát nhập hai xã Don và Mai để thành lập xã Trà Mai. Mỗi thời điểm lịch sử với mỗi tên gọi khác nhau, địa bàn xã Trà Mai về mặt địa lý hành chính cũng có sự điều chỉnh khác nhau.

Trước kia, đơn vị hành chính xã Trà Mai có 4 thôn, đến năm 1970, sát nhập thôn 3 và thôn 4 thành thôn 3. Ngày nay, xã Trà Mai có 3 thôn: thôn 1 có các làng Tak Pỏ[5], làng Tak Nầm, làng Tak Lang, làng Tak Ven; thôn 2 có các làng Tak Ngô (1 và 2), làng Tak Raâu, Tak Ui, làng Tak Chươm; thôn 3 có làng Tak Lũ (1 và 2), làng Tak Ót, làng Tu Nấc và làng Loong Poc (tương tự, tên các làng thường được đồng bào lấy tên các con nước hoặc đặc điểm tự nhiên nơi cư trú).

Trà Mai, huyện Nam Trà My nói riêng và miền núi Quảng Nam nói chung, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu dân tộc học nào đủ sức làm sáng tỏ vấn đề cư dân bản địa và lịch sử cư trú của các tộc người. Đã có một số tài liệu nghiên cứu của ngành khảo cổ học đưa ra lý giải rằng, cách đây khoảng 6.000 năm, trên địa bàn miền núi Quảng Nam đã có con người sinh sống, nhưng đi tìm lời giải cho câu hỏi: Những dân tộc thiểu số hiện nay ở miền Tây Quảng Nam có nguồn gốc từ đâu và họ đã sinh sống trên địa bàn này từ thời nào, thì thực sự vẫn chưa có công trình khoa học nào xác nhận thỏa đáng. Chỉ có một điều chắc chắn, đây là một vùng đất được người Cadong[6] khai phá. Bởi lẽ, từ năm 1905 trở về trước, địa bàn Trà Mai chỉ có một thành phần dân tộc ít người sinh sống là tộc người Cadong. Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước ta, chúng đưa thương lái là người Kinh lên trao đổi, buôn bán để lập tề, điệp nhằm phục vụ cho việc cai trị, đàn áp, bóc lột đồng bào Trà Mai nói riêng và các dân tộc Trà My nói chung. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, địch không thể kiểm soát hết được địa bàn Trà My, hoặc có chăng cũng chỉ là rất lỏng lẻo. Để từng bước vận động đồng bào các dân tộc tham gia cách mạng, Đảng đã cử cán bộ, đảng viên người Kinh lên cùng sinh sống, hướng dẫn đồng bào trồng trọt, chăn nuôi và làm cách mạng, giáo dục, tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, vận động bỏ các tập tục có hại đến đời sống, sản xuất, dạy chữ viết và cách phòng chữa bệnh, vạch rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù. Từ đó, tinh thần đoàn kết giữa đồng bào Kinh - Thượng ngày càng gắn bó sâu sắc.

Tính đến cuối năm 2009, dân số xã Trà Mai có 2.526 người; trong đó, nam chiếm 1.294 người, nữ chiếm 1.232 người. Mật độ dân cư là 25 người/km. Cơ cấu dân số theo tỷ lệ: Dân tộc Cadong: 76,86%; dân tộc Kinh: 21,98%, còn lại các dân tộc khác chiếm 1,16%[7]. Cũng như 9 xã khác của huyện Nam Trà My, Trà Mai chủ yếu là địa hình miền núi cao nên dân cư sống không tập trung, mà sống rải rác trên các triền núi, lưng chừng đồi.

Trà Mai là một vùng đất nghèo, bước ra khỏi nhà là thấy núi ngăn trước mặt. Đời sống kinh tế của đồng bào Cadong xã Trà Mai là trồng trọt và chăn nuôi (trồng trọt chủ yếu là làm lúa rẫy, các loại cây màu, vì đất canh tác ít và phân tán nên người dân làm ruộng chủ yếu là ruộng bậc thang). Với bàn tay khéo léo cộng với tinh thần lao động cần cù, chịu khó, đồng bào dân tộc Trà Mai đã tận dụng những nguồn ưu đãi của thiên nhiên để ổn định và cải thiện đời sống. Sản phẩm nông nghiệp chưa thật sự trở thành hàng hoá (mục đích chính của sản xuất chỉ để tự cung, tự cấp, đảm bảo cho đời sống, sinh hoạt) nên chưa có sự tác động tích cực để thúc đẩy phát triển kinh tế; bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đồng bào Cadong còn có các ngành nghề thủ công nghiệp nhỏ như dệt, rèn, mộc, đan lát các loại dụng cụ sinh hoạt bằng mây, tre... nhưng chỉ manh mún nhỏ lẽ tại một số gia đình.

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI, TÌNH YÊU NÚI RỪNG GẮN VỚI TINH THẦN YÊU NƯỚC

1. Văn hóa - Xã hội

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các dân tộc thiểu số miền núi nói chung và đồng bào Cadong xã Trà Mai nói riêng chỉ có một đơn vị cộng đồng gọi là “plây”[8]. Mỗi Plây có một ranh giới nhất định, cách biệt giữa các Plây chỉ là cánh rừng, ngọn núi, khe suối vô chủ. Một plây là một cộng đồng gồm những gia đình (có hay không có quan hệ thân thuộc với nhau) bao gồm nhiều nóc nhà, mỗi nóc nhà có từ vài hộ đến vài chục hộ chung sống với nhau. Đứng đầu plây là già làng - thường là người đứng đầu một nhóm nhiều gia đình cùng huyết thống có số người đông nhất. Tất cả các việc lớn trong làng, dù lớn hay nhỏ, dù ở lĩnh vực nào, đều được bàn bạc nhất trí; các gia đình trong plây thường dùng chung một máng nước (lang tak) và một nghĩa địa để chôn người chết gọi là rừng ma. Quan hệ giữa các thành viên của một plây Cadong là quan hệ kiểu công xã láng giềng nhưng không phải là một cộng đồng khép kín, nó có thể kết nạp những thành viên mới từ các plây khác đến, miễn là được sự đồng ý của người đứng đầu làng và làm các thủ tục ra mắt plây bằng một lễ cúng trình các thần linh địa phương. Đồng bào Cadong xã Trà Mai xưa kia vốn không có cái nhà chung như kiểu nhà rông của người Bana hay người Xêđăng. Nhưng hiện nay, với chủ trương của Đảng và Nhà nước, một số làng đã được xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng để đồng bào làm nơi hội, họp và sinh hoạt, cũng là nơi tiến hành các nghi thức, lễ hội của làng. Khi trong gia đình hoặc trong làng xảy ra chuyện xấu, trước cửa nhà hoặc trước cổng làng thường được dắt một cành lá tươi với hàm ý cấm người ngoài vào nhà hay vào làng. Chính nhờ phong tục này, Đảng ta đã hướng dẫn đồng bào tạo điều kiện che giấu cán bộ trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, góp phần vào sự thắng lợi chung của cách mạng.

Nhà của người Cadong lợp bằng lá tranh, lá mây, hoặc lá trung quân, sàn nhà thấp, có kiến trúc tương đối vững chắc (hiện nay mái lợp đã được thay thế bằng tôn nhờ vào các chương trình mục tiêu của Chính phủ). Phên nhà và sàn nhà được làm bằng cây lồ ô đánh mắt cáo (nay thay bằng ván gỗ). Nhà thường có từ 2 đến 3 gian, gian trong cùng dành cho người già (gọi là voong - buồng cử).

Nhà ở thường được làm gần nhau, xen vào giữa là những kho thóc của từng gia đình. Những kho thóc này được dựng trên sàn nhỏ có 4 cột, khác hẳn kho thóc của người Cor chỉ dựng trên một trụ cột. Dưới gầm các kho thóc của mình, người Cadong cất giữ chiêng, ché của gia đình.

Đồ trang sức của người Cadong thông dụng nhất là vòng bạc, vòng đồng, chuỗi cườm đá… Trên các tấm dồ, trên những chiếc váy của người phụ nữ có trang trí nhiều hoa văn với các màu sắc sặc sỡ.

Trước đây, vai trò chủ đạo trong sinh hoạt, sản xuất của gia đình do người phụ nữ đảm trách, vai trò, vị trí người phụ nữ trong nhà cao hơn người đàn ông. Đặc biệt, gia đình đồng bào Cadong rất quý trọng người con trai về ở rễ.

Lúc hoang sơ ban đầu, Trà Mai là vùng rừng núi đại ngàn, sương lam chướng khí, khó sinh sống. Nhưng, các thế hệ tiền bối Trà Mai đã không nản chí sờn lòng, đời này tiếp nối đời khác đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để khai rừng, lập nên nóc, nên làng. Quá trình xây dựng lên quê hương là sự thấm đượm mồ hôi, nước mắt và máu xương của biết bao thế hệ người dân Trà Mai. Chính vì vậy, đồng bào các dân tộc Trà Mai có ý thức cố kết cộng đồng cao và rất nặng nghĩa tình với quê hương, với núi rừng.

Sinh hoạt văn hoá người Cadong rất đa dạng và phong phú, đồng bào người Cadong xã Trà Mai biết hát đối, hát cheo, hát kể (hát đối thanh niên nam nữ, hát tìm bạn tình; hát cheo được dùng trong dịp lễ hội mùa ăn trâu huê hoặc sinh hoạt làng; hát kể là loại hình hát tự sự kể lại những việc đã qua dùng cho dịp lễ hội hay chôn cất người chết).

Bên cạnh các loại hình âm nhạc cũng phải nói đến hoạt động dân gian múa cồng chiêng. Đây là loại hình nghệ thuật tiêu biểu đặc sắc của đồng bào Cadong xã Trà Mai nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung. Mỗi bộ cồng chiêng có từ 4 đến 5 chiêng và 01 trống. Trong đó có 01 chiêng mẹ (chiêng chủ) có tiếng vang ngân xa, các chiêng con với những âm thanh khác nhau tạo thành một dàn hòa nhạc đặc sắc. Đội hình múa cồng chiêng thường đi ngược với chiều quay của kim đồng hồ có ý nghĩa là quay ngược thời gian về với cội nguồn.

Ngoài ra, phải nói đến các lễ hội diễn ra hàng năm, đây là tín ngưỡng mang đậm nét của cư dân vùng núi rừng nhằm tôn vinh các vị thần của mình. Tiêu biểu là Lễ hội ăn mừng lúa mới (Ká-poi-nau) tôn vinh vị thần lúa, giúp đỡ, che chở cho mùa màng được bội thu. Vào những năm mưa thuận gió hoà, cây lúa trên nương, trên rẫy cho nhiều hạt, người Cadong không ngớt vui mừng và sung sướng vì một năm đã cho họ vụ mùa no đủ. Đó là lúc gia đình bàn chuyện với các bô lão (Hội đồng già làng) xin ngày để mở hội Ká-poi-nau. Với người Cadong, từ bao đời nay, Thần lúa (Mó-pếê) luôn được tôn kính và giữ một vị trí quan trọng, thân thiết trong đời sống mỗi gia đình cũng như mỗi bản làng. Ước muốn no đủ, an lành, hạnh phúc, thịnh vượng…

Khi gia đình đang háo hức cho ngày hội của mình, thì cũng là lúc trên khắp các bản làng của người Cadong ở Trà Mai, những cơn mưa cuối mùa của đất trời cũng vừa chấm dứt. Nắng xuân toả khắp núi rừng, làng bản. Cây cối đâm chồi nảy lộc, khiến lòng người Cadong càng thêm nhộn nhịp hơn với lễ hội Ká-poi-nau. Tất cả những điều đó khiến cho Hội đồng già làng mau chóng chọn ngày tốt cho gia chủ để tiến hành lễ hội.

Lễ Ká-poi-nau của người Cadong diễn ra trước thời kỳ thu hoạch lúa. Để cho hội Ká-poi-nau tưng bừng, gia đình tiến hành chọn loại nếp đặc chủng, nấu thành xôi, tiến hành lên men ủ rượu, để làm rượu cần. Nếu không có gạo nếp trên, đồng bào dùng sắn để làm rượu cần, chuẩn bị lo gà, heo và một số thực phẩm khác… Đặc biệt, lúa mới vừa được tuốt về dùng để nấu xôi, làm bánh. Trong hội Ká-poi-nau, các con cháu trong họ dù đi làm ăn xa hay có chồng, ở rể đều được quy tụ về. Họ hàng, bà con, anh em khi đến tham dự hội Ká-poi-nau cùng gia chủ nhà thường mang thêm ít rượu, cơm nếp, thịt, cá khô… để vui cùng gia chủ.

Sáng sớm, khi mặt trời vừa hé lộ, những tia nắng bắt đầu xuyên qua cửa nhà ở phía đông, người chủ gia đình dọn một mâm cúng gồm: một ché rượu, một gói bánh bằng lá dong, một ống xôi nướng trong ống tre, bốn bát cơm mới, một con chuột nướng, một con sóc nướng, một con cá nướng, một đĩa trầu cau, một con gà luộc chín, đặt mâm cúng trong nhà không theo hướng nào cả. Người cúng mặc đồ trong trang phục truyền thống của người Cadong. Họ khấn vái và mời các Yàng, như: Yàng pui (thần lửa), Yàng kong (thần núi), thần lúa (Mó-pế), thần đất (Kará-tơní), thần mặt trời (Kará-mắthy), thần nước (Kará-mó huýt), ma tốt (Két-kará)… ông bà, tổ tiên về dự. Đồng bào Cadong tin rằng chính các vị thần này đã giúp đỡ, chở che, đùm bọc họ vượt qua mọi hiểm nguy, hoạn nạn, nghèo đói, bệnh tật, ốm đau… Cúng xong, dân làng, bà con, anh em, họ hàng thân thuộc, bà con láng giềng, con cháu cùng nhau ăn uống, mời rượu no say, hỏi thăm sức khoẻ, công việc nương rẫy… trong sự đùm bọc, thương yêu của mọi người.

Thông thường, đến khoảng tháng 9, tháng 10 Âm lịch, khi những đám lúa trên nương, trên rẫy chín vàng, gia đình tuốt tượng trưng một số lúa vừa đủ một gùi mang về rồi trình báo với Hội đồng già làng xin phép ngày tổ chức lễ hội Ká-poi-nau. Cứ thế hết nhà này đến nhà khác, lễ hội Ká-poi-nau diễn ra tưng bừng làm cho không khí của núi rừng nhộn nhịp hẳn lên.

Ngoài lễ hội ăn mừng lúa mới, đồng bào Cadong còn có các lễ hội khác như lễ hội mùa ăn trâu huê (diễn ra từ tháng 3 đến tháng 4), lễ cúng máng nước (đầu năm), lễ ăn lúa giống còn lại, lễ ăn lúa kho (tháng 12), lễ bỏ cơm, bỏ mã (dùng cho người chết). Tất cả mọi việc trong làng được bàn bạc công khai đi đến thống nhất.

Hôn nhân của người Cadong mang tính một vợ, một chồng bền vững. Rất ít cặp vợ chồng bỏ nhau. Con trai, con gái Cadong đến tuổi trưởng thành đều có quyền tự do tìm hiểu mà không bị sự ràng buộc nào của hai bên gia đình. Nghi lễ cưới xin đơn giản, khi trai gái tâm đầu ý hợp, bố mẹ tìm ông mai (bla) theo trình tự: lễ dạm hỏi (ích), tiếp đến là tổ chức lễ ăn hỏi (xúi) rồi cuối cùng là lễ cưới chính thức (giok kdi) hay là lễ đón dâu (giok kot kri).

Việc đặt tên của đồng bào Cadong không có họ thống nhất. Trước năm 1945, thực dân Pháp đã lấy họ Đinh để áp đặt cho đồng bào các dân tộc huyện Trà My. Đến năm 1963, đồng bào đã tổ chức buổi lễ tuyên bố lấy họ Hồ (họ của Chủ tịch Hồ Chí Minh) làm họ của mình. Hiện nay phần lớn đồng bào đều mang họ Hồ, điều này cũng xuất phát từ tinh thần yêu nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trình độ canh tác của người Cadong tại xã Trà Mai còn nhiều lạc hậu, chủ yếu là hình thức phát, đốt, chọc, tỉa trên nương rẫy, phục thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, năng suất đạt thấp nên thường mất mùa, nạn đói luôn rình rập, đe dọa. Một bộ phận người Cadong sinh sống tại các khu vực bãi, nà ven sông suối, biết làm ruộng lúa nước. Dưới thời Pháp thuộc, một số người Kinh ở đồng bằng được đưa lên Trà Mai làm thương lái nhằm phục vụ cho âm mưu cai trị của kẻ thù. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, một số cán bộ người Kinh ở đồng bằng được tăng cường lên hoạt động cách mạng. Sau khi đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện chính sách định canh, định cư, một số người Kinh và dân tộc khác đã đến sinh sống tại Trà Mai. Nhìn chung, xã hội đồng bào dân tộc Cadong xã Trà Mai vào thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khá lạc hậu, đời sống vật chất, tinh thần còn quá thấp.

Ngày nay, được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước các cấp trên mọi lĩnh vực, nhất là việc triển khai thực hiện chính sách dân tộc, phát triển miền núi của Đảng, đồng bào xã Trà Mai đã tiếp cận và từng bước áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, góp phần ổn định và từng bước nâng cao đời sống, xây dựng quê hương Trà Mai ngày càng giàu đẹp, xứng đáng là trung tâm của huyện Nam Trà My.

2. Tình yêu núi rừng gắn liền với tinh thần yêu nước

Với bản chất cần cù, thật thà, chất phác; yêu quê hương, đất nước; đoàn kết một lòng, gắn bó máu thịt với núi rừng; vào nửa sau thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tấn công vào Đà Nẵng, từng bước đặt ách cai trị lên đất nước ta và tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa, đàn áp, bóc lột nhân dân ta một cách dã man và thậm tệ. Cùng chung số phận với nhân dân cả nước và kiên quyết không chịu khuất phục kẻ thù, hưởng ứng chiếu dụ hịch Cần vương của nhà vua yêu nước Hàm Nghi và lời kêu gọi của các sĩ phu, văn thân đứng dậy đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, nhất là khi các lãnh tụ của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến chiếm Sơn phòng Dương Yên[9], tuyển mộ thêm dân binh, tích trữ gạo muối, mua sắm thêm vũ khí, luyện tập binh lính và biến nơi này thành trung tâm chỉ huy của phong trào Cần Vương cứu nước ở Quảng Nam; đồng bào Cadong xã Trà Mai cũng như đồng bào các dân tộc Trà My đã tích cực đóng góp sức người, sức của vào phong trào. Một số tù trưởng của các làng trong xã Trà Mai đã đứng ra vận động, tập hợp, lãnh đạo đồng bào tham gia cùng với lực lượng Nghĩa hội, chiến đấu dũng cảm ở Suối Đá, Truông Ma, Đá Rồng (Tiên Phước) và nhiều nơi khác.

Năm 1902, quân Pháp đóng đồn Trà My[10], rồi từ đồn Trà My chúng triển khai đóng một loạt các đồn bót khác ở vùng trung và vùng cao. Lực lượng địch ở đồn Trà My gồm khoảng một trung đội lính khố xanh đóng giữ, dưới sự chỉ huy của một sỹ quan người Pháp. Ngoài ra còn có các đồn như Bà Bình, Phương Xá, Gò Nha (ở vùng thấp), Trà Vin, Tak Chanh (ở vùng cao), mỗi đồn có một tiểu đội. Khi cần một lực lượng lớn để đàn áp phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số, địch có thể huy động lực lượng ở đồn giám binh Hội An hoặc nơi khác đến để chi viện.

Cùng với việc thiết lập hệ thống các đồn bót, chúng còn tổ chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở, từng bước đặt ách thống trị lên đồng bào các dân tộc thiểu số. Chúng bắt hoặc thông qua thương lái, dùng tiền bạc mua chuộc người ra làm chánh tổng, cai đốc, quản man... Thực dân Pháp sử dụng lực lượng thương lái bằng cách cho mỗi thương lái buôn bán với một làng nhất định, nắm cho được chủ làng, chánh tổng để thực hiện âm mưu của chúng.

Các thương lái thường tổ chức uống máu ăn thề với chủ làng, chánh tổng, người giàu có và uy tín trong làng. Sau khi ăn thề, làng nào không nghe theo sự hướng dẫn của thương lái thì thương lái không bán muối, rựa cho làng đó. Ngược lại, thương lái không nắm được làng mình buôn bán thì thực dân Pháp không cho làm thương lái nữa. Mỗi làng thực dân Pháp sử dụng cả người của chúng lẫn người bản địa để đặt một chủ làng, mỗi vùng đặt một chánh tổng cai trị. Chúng đồng thời sử dụng số thương lái buôn bán ở Trà My để nắm bắt dân, tiến hành thu thuế, bắt phu và bắt lính; cai trị bóc lột nhân dân dưới hình thức đàn áp, mua chuộc dụ dỗ...

Dưới ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai, cùng với sự nghèo nàn, thấp kém về kinh tế, thiên tai mất mùa, đau ốm, dịch bệnh liên tục hoành hành và nhiều tập tục lạc hậu, đồng bào dân tộc thiểu số Trà Mai phải gánh chịu biết bao lầm than, cơ cực. Đồng bào thường bị thực dân Pháp bắt đi xâu làm đường giao thông, đàn áp, bóc lột thậm tệ và gùi cõng hàng hóa phục vụ cho các cuộc hành quân của chúng. Không cam chịu, khuất phục trước sự áp bức, chà đạp của kẻ thù, đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Trà My nói chung và nhân dân Trà Mai nói riêng đã phát huy tinh thần thượng võ, truyền thống yêu nước, chung sức, chung lòng đấu tranh chống giặc ngoại xâm, liên tục đứng dậy chống lại kẻ thù xâm lược.

Từ những cuộc đấu tranh tự phát để bảo vệ dân làng, bảo vệ nương ngô, rẫy lúa đến những cuộc đấu tranh do các tù trưởng lãnh đạo đã làm cho kẻ thù nhiều phen khiếp vía, gây cho địch những thiệt hại lớn. Ngoài ra, đồng bào các dân tộc Trà Mai đã tổ chức hàng loạt các phong trào chống bắt xâu, bắt lính bằng cách cất giấu lương thực, thực phẩm và tài sản rồi bỏ trốn ra rừng; họ tiến hành phá cầu, đường, ngăn chặn và làm thất bại các cuộc hành quân của địch lên vùng cao. Vì vậy mà bọn thực dân và phong kiến tay sai rất khó khăn trong việc thiết lập hệ thống cai trị ở đây. Cũng như các vùng khác ở miền Tây Quảng Nam, cho dù thực dân Pháp và tay sai dùng nhiều mưu mô, chước quỉ vô cùng thâm độc, nhưng trong thực tế chúng vẫn không thể kiểm soát và nắm được dân, đặc biệt ở vùng cao như Trà Mai.

         Năm 1905, một tên sĩ quan người Pháp - trưởng đồn Trà My đã chỉ huy bọn lính đồn trú mở một cuộc hành quân lên vùng Mò O[11]. Chúng đốt làng Tu Ổi, giết người, bắt giam 4 già làng và cướp bóc tài sản của nhân dân. Căm thù trước hành động bạo ngược của giặc, đồng bào dân tộc Cadong tại làng Mò O đã tổ chức lực lượng kéo xuống bao vây đồn Trà My, đòi thả người và bồi thường muối, rượu cho nhân dân nóc Tu Ổi, uy hiếp tinh thần quân địch đồn trú ở đây[12]. Cuộc đấu tranh đầu tiên đã giành được thắng lợi nên đã gây tiếng vang lớn trong huyện, cổ vũ phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc trong xã cũng như nhân dân huyện Trà My.

Năm 1932, mặc dù chưa có tổ chức cơ sở Đảng, song với truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc, nhằm chống lại âm mưu lập tề và bắt xâu của thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng, đồng bào các dân tộc Trà Mai đã chiến đấu anh dũng để giữ làng, bảo vệ núi rừng. Nhiều cuộc đấu tranh tự phát nổ ra. Tiểu biểu như cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc Xê đăng ở làng Mường Chán thuộc xã Trà Mai đã tổ chức lực lượng đánh đồn Tak Chanh. Nguyên vào những năm đầu thế kỷ XX, một số đồng bào Xê đăng ở làng Loong Him thuộc vùng cao Bắc Kon Tum bị thực dân Pháp khủng bố khốc liệt phải lánh qua vùng cao Trà My để sinh sống. Họ lập nên làng Mường Chán cùng sinh sống với đồng bào Cadong xã Trà Mai. Nhưng ở Mường Chán, đồng bào Xê đăng cũng như Cadong Trà Mai vẫn thường xuyên bị bọn lính đồn Tak Chanh đến dọa dẫm, tìm cách lập tề, bắt xâu.

Để đánh đồn Tăk Chanh, uy hiếp bọn lính tại đây, cùng với đồng bào dân tộc Cadong anh em, nhân dân làng Mường Chán đã thành lập một đội nghĩa dũng gồm 10 thanh niên xung kích dưới sự chỉ huy của Nok Non. Đội nghĩa dũng tiến hành phục kích, chờ cơ hội khi bọn lính trong đồn chủ quan sơ hở tiến đánh, chém 7 tên địch chết tại đồn. Số lính còn lại khiếp sợ, hoảng hốt kéo nhau bỏ chạy về đồn Trà My. Cũng kể từ đó, thực dân Pháp bỏ đồn Tak Chanh, không dám đưa quân lên đóng lại.

Vào những năm 1936 - 1938, ở vùng Tây Nguyên và dọc Nam Trường Sơn nổ ra phong trào “Nước Xu” hay “Nước Xu đồng”. Nhân dân các dân tộc thiểu số huyện Trà My dưới sự lãnh đạo của ông Đúc, ông Điền, đã nổi dậy hưởng ứng quyết liệt phong trào, tổ chức nhiều trận đánh đuổi thực dân Pháp.

Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của phong trào và khí thế hừng hực của nhân dân trong huyện, cuối năm 1937, đồng bào Trà Mai đã tổ chức lực lượng, rào làng, làm lễ cúng thần linh, hưởng ứng phong trào, sẵn sàng tham gia chống thực dân Pháp. Đầu năm 1938, thực dân Pháp mở một cuộc hành quân lớn lên vùng cao huyện Trà My. Đoán được hướng hành quân của địch, các thủ lĩnh và nhân dân trong xã phối hợp với các thủ lĩnh vùng lân cận chỉ huy cuộc chiến đấu, nhanh chóng mai phục tại Dốc Dược (thuộc địa bàn thôn 3, xã Trà Mai ngày nay) và đợi đến lúc toàn bộ cánh quân của địch lọt vào trận địa rồi mới hạ lệnh tấn công. Nghĩa quân dùng cung, nỏ bắn tới tấp vào đội hình quân Pháp, làm cho chúng hoảng loạn. Bị đánh bất ngờ từ mọi phía, quân địch đánh trả song vô hiệu. Kết quả, nghĩa quân đã chặn đứng được cuộc hành quân của địch, nhiều tên địch tử trận, trong đó có một tên sĩ quan người Pháp bị bắn chết. Quân Pháp phải bỏ dở cuộc hành quân và rút về Nước Xa[13].

Chiến thắng Dốc Dược là một trận thắng lớn của phong trào “Nước Xu” ở huyện Trà My, đặc biệt có sự tham gia của đông đảo quân và nhân dân xã Trà Mai, bẻ gãy mũi tiến công của địch lên vùng cao, thể hiện truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết trong việc đánh giặc ngoại xâm, góp phần nâng cao niềm tin, củng cố quyết tâm, chứng minh đồng bào các dân tộc huyện Trà My có đủ khả năng đánh thực dân Pháp bằng vũ khí thô sơ.

Sau trận Dốc Dược, thực dân Pháp tăng cường quân lính, thực hiện cho bằng được cuộc hành quân lên vùng cao Trà My. Tên Đơ Luxtanh, trưởng đồn Bót Xít (Bến Giằng) được viên công sứ Pháp ở Hội An gọi về giao nhiệm vụ lên gấp Trà My tìm cách bắt ông Điền, ông Đúc. Cùng với nhân dân huyện nhà, đồng bào dân tộc xã Trà Mai lại tiếp tục chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Thực dân Pháp cùng với bọn tay sai tiến lên được một số làng vùng cao nhưng rất vất vả. Tại Non Dắt, địch xảo quyệt dùng một tên thương lái trước đó có quen biết ông Điền, ông Đúc lần mò vào núi tìm đến nơi hai ông đang trú, dụ dỗ nếu hai ông ra hàng thì sẽ được thực dân Pháp tha bổng. Vì lầm mưu giặc nên ông Điền, ông Đúc đã bị địch bắt và chúng đã hèn hạ xử bắn hai ông ngay tại Non Dắt. Giết được hai anh em ông Điền, ông Đúc, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp nhân dân địa phương.

Cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn vùng cao Quảng Nam, do những hạn chế mang tính chất khách quan, các thế hệ tiền nhân của Trà Mai lúc bấy giờ đã không đủ sức và lực để tổ chức đánh đuổi giặc Pháp đến cùng. Nhưng, ý chí chống giặc ngoại xâm, tình yêu đất nước, một lòng một dạ gắn bó với núi rừng, bản làng quê hương cũng như khát vọng tự do và tinh thần thượng võ của họ đã trở thành cội nguồn sức mạnh, tiếp sức cho các thế hệ sau làm nên chiến thắng và là điều kiện thuận lợi để nhân dân Trà Mai vươn lên, đi theo Đảng và Bác Hồ để làm cách mạng, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành lại quyền làm chủ núi rừng.


CHƯƠNG 2

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VỚI ĐỒNG BÀO TRÀ MAI VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA VỀ MỌI MẶT DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ 1945 - 1954

 

I. THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 VÀ NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI Ở TRÀ MAI (8/1945 - 10/1949)

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Tại Đông Dương, toàn bộ quân Pháp bị Nhật tước vũ khí, bắt giam. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định kẻ thù trực tiếp và duy nhất là phát xít Nhật, phát động một phong trào kháng Nhật cứu nước, làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi có thời cơ.

Tháng 5 năm 1945, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng trên một chiếc thuyền tại bến đò ông Đốc trên dòng sông Thu Bồn (Đại Lộc), quyết định kiện toàn Ủy ban Mặt trận Việt Minh tỉnh, đẩy mạnh xây dựng khu căn cứ cách mạng, phát triển các đội tự vệ vũ trang ở cơ sở, chú trọng việc móc nối xây dựng cơ sở trong thành thị, vùng xung yếu, vùng rừng núi.

Ở Quảng Nam, do thông tin liên lạc khó khăn, mặc dù Tỉnh ủy chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương và vận dụng chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Tỉnh ủy đã phát động nhân dân khởi nghĩa. Khởi nghĩa đã nổ ra ở nhiều địa phương thuộc các phủ, huyện đồng bằng. Sáng sớm ngày 18 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa ở tỉnh lỵ Hội An giành được thắng lợi. Quảng Nam trở thành một trong 4 tỉnh giành được chính quyền ở tỉnh lỵ sớm nhất trong cả nước.

Khi chính quyền ở các phủ, huyện trong tỉnh về tay nhân dân, ngày 22 tháng 8 năm 1945, Ủy ban bạo động khởi nghĩa tỉnh phái một trung đội lực lượng vũ trang do đồng chí Hồ Tuân chỉ huy và đồng chí Nguyễn Tuân là cán bộ chính trị đi lấy đồn Trà My. Lính bảo an giữ đồn Trà My nghe tin Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi khắp nơi, khi lực lượng ta đến, chúng sắp sẵn đội hình chỉnh tề, mang súng chúc nòng xuống đất, đón ta vào tiếp quản đồn. Quản Chiểu, trưởng đồn Trà My đã giao nộp toàn bộ vũ khí, tài liệu cho ta. Lá cờ quẻ ly trước sân đồn bị ném xuống và lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trong niềm phấn khởi của đông đảo quần chúng nhân dân. Sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, ta tổ chức mít ting tại sân đồn Trà My, tuyên truyền 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, sau đó làm lễ ra mắt Ủy ban lâm thời quản lý đồn Trà My[14].

Đồn Trà My về tay lực lượng cách mạng, nhân dân các dân tộc Trà My được giải phóng khỏi gông xiềng nô lệ của chế độ thực dân, phong kiến. Hòa với niềm vui chung của đồng bào cả huyện, đồng bào Cadong ở Trà Mai phấn khởi tổ chức đâm trâu làm lễ ăn mừng. Từ đó, nhân dân Trà Mai từng bước biết đến Đảng Cộng sản, từng bước được Đảng tuyên truyền giác ngộ; ngày càng hiểu và tin theo đường lối, chính sách của Đảng, nguyện suốt đời đi theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng.

Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Quân đội các nước Đồng minh dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật đã lũ lượt kéo vào nước ta. Đất nước đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Tuy nhiên, chỉ một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ Lâm thời công bố lệnh tổng tuyển cử trong cả nước.

Ngày 6 tháng 01 năm 1946, vượt qua mọi hành động chống phá của kẻ thù, được sự vận động của các đồng chí cán bộ do Tỉnh ủy và Mặt trận Việt Minh tỉnh phái lên miền núi giúp đồng bào giới thiệu ứng cử viên và tham gia bầu cử. Ông Đinh Tựu, người dân tộc Cor ở Trà My - là người dân tộc thiểu số đầu tiên của tỉnh Quảng Nam được chỉ định vào Quốc hội.

Tiếp theo, vào tháng 02 năm 1946, nhân dân các dân tộc Trà My tham gia cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đồng bào đã chọn và bầu các đồng chí Hoàng Châu Ký, Lê Thị Kinh, Nguyễn Sang, Bùi Biên vào Hội đồng nhân dân tỉnh[15]. Thành công của cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh là niềm động viên, kích lệ to lớn đối với phong trào cách mạng trong toàn tỉnh; đồng thời, tạo điều kiện để phát triển lực lượng cách mạng lên miền núi.

Tháng 12 năm 1946, nhằm thực hiện cuộc vận động cách mạng ở các vùng dân tộc ít người và xây dựng vùng rừng núi phía Tây Quảng Nam thành hậu phương của cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Quảng Nam đã quyết định thành lập Phòng Liên lạc quốc dân thiểu số Trà My, lấy nhà thương (trạm xá) ở đồn Trà My làm nơi đóng cơ quan. Từ đây, đoàn công tác vùng cao gồm các đồng chí Phạm Thành Hiệu (Hai Non), Lê Mục, Nguyễn Châu Quế, Ngô Dinh đã tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động xây dựng chính quyền cách mạng ở thôn, xã, tổng vùng đồng bào Cor, Cadong, Xê đăng và Bh’noong. Trên cơ sở đó đoàn kết các dân tộc nhằm chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập châu Trà My.

Hoạt động tích cực của Phòng Liên lạc quốc dân thiểu và của đoàn công tác vùng cao, nhất và việc vận dụng sáng tạo chính sách dân tộc của Mặt trận Việt Minh, chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Nam về miền núi, liên tục tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho đồng bào dân tộc thiểu số địa phương. Chỉ sau một thời gian ngắn, Phòng Liên lạc quốc dân thiểu Trà My đã thành lập được chính quyền cấp xã ở nhiều địa phương trong huyện. tháng 3 năm 1947, chính quyền xã Trà Ngok Tu gồm có 3 người: đồng chí Hồ Văn Nú làm Chủ tịch, đồng chí Hồ Văn Mầu làm Phó Chủ tịch và đồng chí Lý Văn Xích làm Ủy viên thư ký.

Tuy nhiên, do đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao huyện Trà My cũng như đồng bào xã Trà Ngok Tu đều chưa có chữ viết; hơn nữa, đồng bào lại ít thông thạo tiếng Kinh, nên việc tuyên truyền, xây dựng tổ chức Đảng ở đây gặp không ít khó khăn.

Sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, chính quyền xã Trà Ngok Tu đã tổ chức các buổi lễ ăn thề giữa các làng trong xã, giữa nhân dân trong xã với các vùng lân cận. Nạn “ăn đầu trả đầu”, những hiềm khích cũ giữa đồng bào trong xã với các vùng lân cận từng bước được giải quyết, đồng bào chung sống hòa thuận, đoàn kết chung quanh Mặt trận Việt Minh và chính quyền cách mạng.

Song song với việc thành lập chính quyền cấp xã, công tác xây dựng chính quyền cách mạng ở các thôn cũng được triển khai nhanh chóng và khá thuận lợi nhờ có sự đồng tình hưởng ứng của đồng bào. Đơn vị thôn được lập dựa theo làng cũ, hoạt động của chính quyền tự quản được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên, nên đã tập hợp được đông đảo nhân dân trong các phong trào hành động cách mạng.

Từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 3 năm 1947, theo chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Nam, Đại hội thành lập châu và Ủy ban Hành chính châu Trà My được tổ chức tại đồn Trà My. Đây là một sự kiện có ý nghĩa lớn đối với các dân tộc ở địa phương, là điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo đấu tranh cách mạng đối với đồng bào dân tộc thiểu số Trà Ngok Tu. Từ đây các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, sự đóng góp sức người, sức của của đồng bào Trà Ngok Tu đối với kháng chiến đều được thực hiện có tổ chức, gắn liền với hoạt động của chính quyền cách mạng địa phương.

Công tác sản xuất được chính quyền xã chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh thực hiện, trước mắt là sản xuất lương thực tự túc đảm bào đời sống, sinh hoạt. Bên cạnh đó, chính quyền cũng vận động, tuyên truyền đồng bào trong xã học tập và thực hiện đời sống mới trong sinh hoạt.

Phong trào học chữ cũng được đồng bào hưởng ứng tích cực, đây là niềm khao khát của đồng bào các dân tộc Trà My, trong đó có một bộ phận đồng bào Cadong ở Trà Mai. Trong thời gian này, dưới sự giúp đỡ của Ủy ban hành chính châu Trà My, một số người dân Trà Ngok Tu bước đầu đã được tiếp cận với chữ viết phổ thông. Qua đó giúp cho việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng đối với đồng bào được thực hiện dễ dàng hơn.

Những kết quả của việc tổ chức xây dựng chính quyền ở các địa phương miền núi Quảng Nam, ở Trà My và sự ra đời của châu Trà My là bước chuyển quan trọng cho việc thành lập huyện Trà My. Trên cơ sở chín mùi và nhằm đẩy mạnh xây dựng vùng tự do, vùng căn cứ miền núi của tỉnh, Tỉnh ủy Quảng Nam chủ trương bỏ cấp châu, thành lập cấp huyện.

Ngày 12 tháng 10 năm 1948, Tỉnh ủy đã quyết định tách phần đất thuộc hai tổng của châu Trà My sát nhập cùng với 6 xã: Liên Giang, Vinh Quang (Quế Sơn), Song An, Phú Toàn (Tiên Phước), Tráng Sơn, Thăng Phước (Thăng Bình) để thành lập huyện Phước Sơn. Phần đất còn lại của châu Trà My được hình thành huyện Trà My. Xã Trà Ngok Tu là đơn vị hành chính trực thuộc huyện Trà My.

Công tác xây dựng Đảng và phát triển đảng viên được chú trọng, số lượng đảng viên không ngừng được tăng lên, yêu cầu thành lập Đảng bộ lúc này được đặt ra. Vì vậy, Tỉnh ủy quyết định thành lập Đảng bộ huyện Trà My trong năm 1949. Ngày 28 tháng 10 năm 1949, lễ công bố quyết định thành lập Đảng bộ huyện Trà My được tiến hành tại xã Trà Giang. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Trà My, thể hiện sự chuyển biến cả về lượng và chất trong công tác xây dựng Đảng và phong trào cách mạng trong toàn huyện.

II. TÍCH CỰC XÂY DỰNG TRÀ NGOK TU THÀNH HẬU CỨ VỮNG CHẮC CỦA CÁCH MẠNG (10/1949 - 7/1954)

Sau ngày thành lập, Huyện ủy tiến hành họp phiên đầu tiên. Hội nghị phân tích, đánh giá tình hình và xác định nhiệm vụ xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự và nhấn mạnh phải xây dựng huyện nhà thành căn cứ kháng chiến của tỉnh. Công tác phát triển miền núi phục vụ cho kháng chiến được coi trọng. Trên cơ sở đó, Huyện ủy chọn xã Trà Ngok Tu làm trung tâm để xây dựng và phát triển các xã vùng cao. Một số cán bộ, đảng viên được tăng cường cho xã Trà Ngok Tu, thực hiện chính sách cùng ăn, cùng ở, cùng làm, tích cực len lỏi rừng này qua núi nọ, hướng dẫn đồng bào trong lao động sản xuất và sinh hoạt, tuyên truyền chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng, vận động đồng bào ủng hộ, tích cực tham gia kháng chiến.

Đến cuối năm 1949, nhằm tăng cường, củng cố miền núi, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định điều động đồng chí Nguyễn Ngọc Tân (Bảy Nùng) lên công tác tại Trà My, đồng chí được Huyện ủy phân công phụ trách và xây dựng địa bàn xã Trà Ngok Tu. Được sự giúp đỡ của cấp trên, công tác phát triển Đảng được đặc biệt quan tâm, một số quần chúng ưu tú của xã được phát hiện và giáo dục, bồi dưỡng, tạo nguồn cho công tác phát triển Đảng. Các cơ sở nòng cốt bước đầu được hình thành như già Dầm, già Nú, già Teng. Đây là những cơ sở đã hoạt động tích cực trong việc nuôi dấu cán bộ đồng bằng lên tham gia hoạt động cách mạng ở miền núi. Nhờ đó, những cán bộ, đảng viên của ta được bảo đảm an toàn và xây dựng phong trào cách mạng miền núi ngày càng phát triển.

Thực hiện chủ trương của Huyện ủy về cuộc vận động đoàn kết các dân tộc, xóa bỏ nạn “ăn đầu trả đầu” do âm mưu của địch để lại, chính quyền tự quản xã Trà Ngok Tu đã tiến hành tuyên truyền, phổ biến chủ trương trên đến đông đảo đồng bào trong xã. Cuộc vận động đoàn kết các dân tộc được triển khai sâu rộng và đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Tục “ăn đầu trả đầu” là một tệ nạn ác hiểm từng tồn tại trong một thời gian dài, gây nên bao tan tóc, hận thù dai dẳng giữa đồng bào các dân tộc trong vùng đã bị chặn đứng, đẩy lùi. Đồng bào các dân tộc anh em chung sống hòa thuận, đoàn kết cùng xây dựng chính quyền cách mạng. Phong trào giúp đỡ tương trợ lẫn nhau cũng được đẩy mạnh trên tinh thần làng dư ăn, làng đủ ăn giúp làng thiếu ăn, người khá giúp kẻ khó… Hệ thống Ủy ban Kháng chiến - Hành chính xã[16] và ban thôn tiếp tục được củng cố, kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động thường xuyên, chặt chẽ hơn, phong trào cách mạng ngày càng tập hợp được đông đảo đồng bào dân tộc trong xã tham gia.

Trong những năm 1950 - 1952, ở vùng cao Trà My, giáp với Kon Tum, bọn thực dân Pháp từ Kon Tum lấn xuống lập gum, tề với ý đồ là có thể đánh chiếm, quấy phá vùng tự do Liên khu 5 (ở đồng bằng) qua ngả miền núi Bắc Tây Nguyên. Xã Trà Ngok Tu và các xã lân cận thường bị giặc Pháp từ phía Đak Glêi sang uy hiếp, một số thương lái bóc lột đồng bào, dụ dỗ, mua chuộc lập tề điệp nhằm đánh phá căn cứ cách mạng của ta. Trước tình trạng đó, Huyện ủy và Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Trà My đã tăng cường công tác xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, đưa một tiểu đội bộ đội địa phương lên hoạt động vũ trang tuyên truyền, ngăn chặn âm mưu của địch. Được sự giúp đỡ của huyện nên phong trào cách mạng ở xã Trà Ngok Tu phát triển lên một bước mới, đồng bào nhận thấy rõ âm mưu của địch đã kiên quyết đấu tranh không để địch lợi dụng lập gum, điệp chống phá cách mạng.

Công tác xây dựng xã kiểu mẫu được chính quyền thôn, xã chú trọng. Việc tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện đời sống mới được tiến hành thường xuyên. Nhận thức của đồng bào bước đầu được nâng lên, các phong tục tập quán có hại đối với đời sống và sản xuất từng bước được xóa bỏ, sản xuất nông nghiệp được cải tiến và đạt hiệu quả cao hơn so với những năm trước. Một số cán bộ của xã được huyện đào tạo nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền cơ sở.

Tháng 10 năm 1950, huyện thành lập tổ chức kinh tế Kinh - Thượng[17], trực tiếp đứng ra làm nhiệm vụ tiếp tế và tiêu thụ hàng hóa, kiểm soát giá cả và các hoạt động của thương lái buôn bán trong huyện, khu Tak Pỏ được chọn làm trung tâm của tổ chức kinh tế Kinh - Thượng. Nhờ đó, đồng bào Trà Ngok Tu và nhân dân các xã lân cận ít bị thương lái lừa phỉnh, bóc lột; khả năng trao đổi, mua bán hàng hóa của đồng bào thuận lợi hơn và có bước phát triển đáng kể.

Trong thời gian này, do yêu cầu của chiến trường Bắc Tây Nguyên, đồng thời do yêu cầu phục vụ đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng lớn, Liên khu ủy 5 đã cho mở thêm một hành lang gồm hai hướng: một hướng từ đồng bằng Quảng Nam (tức Trà My đi Tak Lũ, Trà Ngok Tu), một hướng từ đồng bằng Quảng Ngãi lên Trà Bồng (Quảng Ngãi) rẽ qua. Hai hướng gặp nhau tại Tak Lũ (Trà My) hợp thành một đường lên Măng Tra, Tu Du, Tak Ren qua Tak Min (Đak Glêi, Kon Tum). Đồng bào xã Trà Ngok Tu đã cùng với nhân dân trong huyện tích cực đóng góp công sức để xây dựng tuyến hành lang này.

Trước yêu cầu về tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng, theo chủ trương của Huyện ủy, Ủy ban Kháng chiến - Hành chính huyện, ngày 8 tháng 3 năm 1951, Ủy ban Mặt trận Liên Việt xã Trà Ngok Tu được thành lập, do đồng chí Hồ Văn Nú làm Chủ tịch, đồng chí Hồ Văn Mầu làm Phó Chủ tịch. Do điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, xã Trà Ngok Tu chưa thành lập được chi bộ Đảng, phong trào cách mạng của xã chủ yếu hoạt động dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban Mặt trận Liên Việt.

Uỷ ban Mặt trận Liên Việt có nhiệm vụ lãnh đạo và tổ chức các phong trào cách mạng của nhân dân địa phương, vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng trong các tầng lớp nhân dân. Công tác xây dựng lực lượng nòng cốt cho hoạt động bắt đầu được chú trọng, một số quần chúng ưu tú được giác ngộ và đứng vào hàng ngũ của Đảng như đồng chí Hồ Văn Nú, Hồ Văn Mầu…

Hưởng ứng sự kêu gọi ủng hộ quỹ kháng chiến nhằm chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công của Đảng và Chính phủ, mặc dù đời sống còn nhiều khó khăn do thiên tai, mất mùa, song đồng bào Trà Ngok Tu đã tích cực sản xuất lương thực, vừa đảm bảo đời sống, vừa có gạo để đổi lấy nông cụ sản xuất, vải, dồ để mặc và trâu để nuôi. Từng hộ gia đình đã bớt một phần lúa, sắn, bắp phục vụ kháng chiến, có hộ khá tình nguyện đóng góp cả heo, trâu, bò… Bên cạnh đó, đồng bào đã xây dựng một số cơ sở tích cực nuôi giấu, giúp đỡ cán bộ người Kinh lên tham gia hoạt động cách mạng. Một số thanh niên trong xã hăng hái hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ lên đường tòng quân giết giặc, tham gia vào đại đội vũ trang của huyện. Lực lượng du kích xã không ngừng được xây dựng, củng cố.

Dưới ánh sáng của Đảng và thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Huyện ủy Trà My tổ chức Hội nghị mở rộng (tháng 10 năm 1951). Hội nghị đánh giá: sau 5 năm tích cực hoạt động các xã vùng trung, vùng cao, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng. Nếu trước kia có những xã không có cơ sở thì nay tình trạng đó đã được khắc phục. Qua hoạt động, đường lối chủ trương của Đảng xâm nhập vào quần chúng, uy tín của Bác Hồ đối với đồng bào các dân tộc ngày càng được nâng cao.

Sau khi đánh giá tình hình, Hội nghị đã đề ra chủ trương tiếp tục vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất; cán bộ, đảng viên, bộ đội phải gương mẫu trong việc sản xuất; sản xuất với dân để cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Thực hiện chủ trương trên, nhiều cán bộ, đảng viên đã được tăng cường về xã, hướng dẫn và giúp đồng bào sản xuất. Hội nghị cũng quyết định chuyển các cơ quan của huyện từ Tiên Trà lên Nước Dắt (gần Nước Xa), đây cũng là một điều kiện thuận lợi để nhân dân Trà Ngok Tu nhanh chóng tiếp cận đường lối, chủ trương của Huyện ủy.

Để đáp ứng nhu cầu cho sản xuất, giải quyết một phần việc tự cung tự cấp công cụ lao động cần thiết, nhất là giải quyết nạn thiếu cuốc, rựa cho đồng bào các dân tộc thiểu số, huyện đã tiến hành xây dựng nhiều lò rèn và đào tạo thợ rèn cho các xã. Một số thợ rèn của xã Trà Ngok Tu đã được đào tạo. Ngay sau đó, các lò rèn thủ công được mở ra trong các thôn, nóc, các thợ rèn tích cực hoạt động. Nhờ vậy mà tại địa phương nhiều cuốc, rựa được làm ra phục vụ cho việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đảm bảo lương thực hàng ngày và cung cấp lương thực cho kháng chiến.

Với đường lối, chủ trương và chính sách dân tộc của Đảng, vấn đề đoàn kết giữa các đồng bào dân tộc, đoàn kết giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số ngày càng đi vào chiều sâu; tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa cán bộ người Kinh với đồng bào Cadong ngày càng sâu sắc; cán bộ được đồng bào thương yêu, đùm bọc che dấu, cùng nhau làm cách mạng, đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Trong hai năm 1952 - 1953, cũng như các xã khác của huyện Trà My, do ảnh hưởng của thiên tai, sản xuất của đồng bào gặp nhiều khó khăn, xã Trà Ngok Tu bị mất mùa liên tiếp, lương thực thiếu trầm trọng. Nạn đói, nạn đau, nạn lạt muối hoành hành, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của đồng bào, việc tham gia ủng hộ kháng chiến cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Trước tình hình đó, Huyện ủy và Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Trà My đã tổ chức cuộc vận động đợt cứu đói, cứu lạt (lạt muối) từ năm 1953 đến đầu năm 1954.

Để công tác cứu đói được thực hiện nhanh chóng và đạt kết quả, Ủy ban Mặt trận Liên Việt xã Trà Ngok Tu đã triển khai học tập chính trị về chủ trương cứu lạt của cấp trên cho toàn thể cán bộ, đảng viên trong xã, sau đó tổ chức bình xét, phân loại người được hưởng trợ cấp để cử lên huyện nhận gạo và muối. Nhờ làm tốt công tác vận động quần chúng, giải thích rõ đường lối, chủ trương của Đảng, nhân dân phấn khởi, phần nào giải quyết được nạn đói và lạt muối. Bên cạnh đó, đồng bào không chỉ được giải quyết nạn đói và lạt muối mà còn được trợ cấp thóc giống và dụng cụ lao động để tăng gia sản xuất tự túc lương thực, từng bước cải thiện về đời sống và tiếp tục ủng hộ kháng chiến.

Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Trà Ngok Tu gặp nhiều khó khăn, phần lớn đồng bào các dân tộc ở đây đều ủng hộ cách mạng nhưng do trình độ văn hóa thấp, chưa hiểu biết nhiều về Đảng, việc xây dựng cơ sở Đảng nòng cốt là công việc hết sức phức tạp và khó khăn. Trước tình hình trên, nhằm xây dựng cơ sở Đảng tại địa phương, gây dựng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, một cơ sở số tốt được đồng chí Nguyễn Xuân Phiêu phát hiện và liên tục giáo dục, bồi dưỡng để phát triển Đảng như ông Teng, ông Chước, ông Nú.

Tháng 10 năm 1953, nhằm tăng cường công tác xây dựng căn cứ địa miền núi, giúp cho Tỉnh ủy Quảng Nam tập trung xây dựng vùng đồng bằng chuẩn bị chống chiến dịch Atlăng của địch, Liên Khu ủy 5 đã quyết định tạm thời tách miền tây ra khỏi Quảng Nam, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự miền Tây do Liên khu ủy 5 thành lập. Đồng chí Trương Chí Cương được phân công làm Bí thư Ban cán sự miền Tây. Dưới sự chỉ đạo của Ban cán sự miền Tây, phong trào cách mạng ở Trà Ngok Tu nói riêng và ở Trà My nói chung đã phát triển lên một bước mới, các hoạt động chống phá “gum” (goum)[18], tề được nhân dân đẩy mạnh thực hiện. Cùng với công tác xây dựng, củng cố chính quyền, tích cực kháng chiến, phong trào học văn hóa được đồng bào tích cực hưởng ứng.

Tuy nhiên, vào thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đã thâm nhập vào vùng cao của huyện Trà My, cài cấy ngụy tề, thành lập một số tổ chức gum, nhằm ngăn chặn hành lang vận chuyển, tiếp tế của ta và quấy rối hậu phương phía tây. Tháng 2 năm 1954, sau khi đồn Ngok Spanh (Đak To, Kon Tum) bị bộ đội chủ lực Liên khu 5 tiêu diệt, thì các tổ chức “gum” tề ở các xã Vân Nãi, xã Nú, xã Rây, Nam Bền và Bắc Bền bị đồng bào ta quét sạch, thu súng đạn mà thực dân Pháp đã trang bị cho chúng. Đồng bào xã Trà Ngok Tu cũng không còn bị giặc đàn áp, quấy rối.

Trong thời điểm Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chiến tại Đông Dương được ký kết, Huyện ủy Trà My còn lại 6 đồng chí, do đồng chí Châu Cự Hải làm quyền Bí thư. Để tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng, Huyện ủy đã điều động đồng chí Nguyễn Xuân Phiêu đặc trách xã Trà Ngok Tu (đến năm 1956) nhằm bảo tồn lực lượng cách mạng, đồng thời cho số đông cán bộ người Kinh đi tập kết ra miền Bắc. Nhằm củng cố lực lượng vũ trang của địa phương, Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Trà Ngok Tu đã xây dựng lực lượng du kích xã gồm 15 đội viên, được trang bị gậy, giáo mác, chông thò và một số súng trường thu được của địch. Bên cạnh đó, một số thanh niên xung kích của xã đã tham gia vào lực lượng bộ đội địa phương của huyện.

Bị thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ (7/5/1954) và trên các chiến trường, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, đánh dấu sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta, trong đó có sự đóng góp một phần công sức của các dân tộc xã Trà Ngok Tu, huyện Trà My.

Với những thắng lợi giành được trong thời kỳ cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng bào các dân tộc xã Trà Ngok Tu đã chuẩn bị cho mình một tinh thần vững vàng, sẵn sàng đối mặt với một thử thách mới, đó là cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Trà My bước vào cuộc kháng chiến gay go, quyết liệt chống Mỹ, cứu nước, mà trước mắt là đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ.


CHƯƠNG 3

CHI BỘ ĐẢNG Ở XÃ TU[19] RA ĐỜI, TRỰC TIẾP LÃNH  ĐẠO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

(1954 - 1965)

 

I. SỰ RA ĐỜI CỦA CHI BỘ ĐẢNG Ở XÃ TU VÀ CUỘC ĐẤU TRANH GÌN GIỮ LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG (7/1954 - 1959)

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng CNXH, miền Nam còn tạm thời nằm trong vòng kiểm soát của đối phương. Việc thống nhất đất nước sẽ được thực hiện bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát và giám sát của quốc tế.

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ đã trắng trợn ngăn cản và phá vỡ việc thi hành Hiệp định Giơnevơ, hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam, lập chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Ở thời điểm ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, Huyện ủy Trà My còn lại 6 đồng chí. Đồng chí Trần Hạnh Đức, Bí thư Huyện ủy đi dự chỉnh huấn lần thứ 2 ở Liên Khu V, đồng chí Châu Cự Hải được cử làm Quyền Bí thư Huyện ủy. Ngày 25 tháng 8 năm 1954, quân địch lên tiếp quản vùng Tiên Phước và lần mò lên Trà My để nắm bắt tình hình. Huyện ủy Trà My đang đứng chân tại xã Tiên Trà, huyện Tiên Phước phải dời về xã Nú. Tại đây, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy tổ chức một hội nghị quan trọng bàn việc chuyển hướng hoạt động của Đảng bộ cho phù hợp với tình hình mới.

Hội nghị nhận định: địch chiếm đóng Tiên Phước và đang tiến lên Trà My. Chúng đang khẩn trương thu thập tình hình của ta để chuẩn bị tổ chức đánh phá phong trào cách mạng của địa phương và lập chính quyền ở các xã vùng giáp ranh, đẩy cán bộ, đảng viên ra khỏi quần chúng[20]… Thủ đoạn của chúng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian trước mắt chủ yếu là tung gián điệp lên các nóc, đồng thời kết hợp khai thác số thương lái người Kinh buôn bán ở miền núi cũng như số người dân tộc thiểu số đi mua bán ở vùng đồng bằng để dò la tin tức, nắm tình hình, chuẩn bị tiến lên chiếm đóng miền núi khi có điều kiện.

Từ nhận định trên, dựa vào chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy, Huyện ủy chủ trương chuyển hoạt động vào bí mật, chuyển phong trào từ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị đơn thuần, từ bất hợp pháp sang hợp pháp và nửa hợp pháp, đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống khủng bố, đồng thời bảo tồn lực lượng cách mạng. Huyện ủy cũng chủ trương công bố giải tán các tổ chức cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, chuyển các đảng viên người Kinh ở các xã vùng thấp sinh hoạt với chi bộ địa phương, ở các xã vùng cao thì lập các chi bộ ghép. Các xã Tu, Giác, Riềng, Poa thành lập một chi bộ. Đồng thời ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng nòng cốt trong dân.

Trước âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, ngày 22 tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Điều chỉnh khu vực quyết không phải là chia xẻ đất nước ta, quyết không phải là phân trị”, “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng[21]. Tháng 8 năm 1954, Huyện ủy Trà My tổ chức học tập các nhận định của Trung ương về thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ và tổ chức các đoàn cán bộ xuống tận cơ sở để giải thích cho đồng bào ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định; đồng thời, phân công cán bộ người Kinh ở lại hoạt động bất hợp pháp, cùng với cán bộ người dân tộc hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp để xây dựng phong trào cách mạng.

Tình hình miền Tây Quảng Nam liên tiếp từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1956, địch dùng hình thức biệt kích mạnh ở vùng trung và vùng cao huyện Trà My, gây hoang mang, lo ngại trong nhân dân. Tình hình tư tưởng của đồng bào xã Tu cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ và hoạt động tích cực của các đồng chí uyHuyện uỷ viên, một số cơ sở cách mạng bí mật được xây dựng vững chắc như già Nơi, già Dầm, già Núi, già Xuốm, anh Kiêm; ở nóc Tak Bót có đồng chí Di, đồng chí Tang làm cơ sở; ở Tak Pỏ có già Teng, đồng chí Lang, chị Bê; Tak Lũ có đồng chí Xích, chị Xú; ở Tak Rau có già Nôn, các làng Tak Nầm, Tak Chươm đều có lực lượng trung kiên nòng cốt[22]. Bên cạnh đó, một số thanh niên của xã đã tích cực tham gia cách mạng cũng như làm công tác giao liên phục vụ cách mạng.

Các tổ đoàn kết sản xuất được hình thành nhằm đẩy mạnh sản xuất lương thực phục vụ cách mạng, gìn giữ trật tự, an ninh bản làng và đấu tranh chống âm mưu chia rẽ của địch. Mặc dù địch tăng cường lùng sục, dụ dỗ, mua chuộc nhưng đồng bào dân tộc xã Tu vẫn kiên quyết đấu tranh, bảo tồn cơ sở cách mạng, bảo vệ an toàn cán bộ cách mạng lên hoạt động.

Lòng tin của đồng bào xã Tu đối với Đảng, với Bác Hồ được nâng lên một cách tuyệt đối trước những thành công và kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là những thành tựu có tính cách mạng sâu sắc đạt được qua cuộc vận động xây dựng miền núi, về tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết người Kinh - Thượng; các phong trào tăng gia sản xuất tự túc lương thực, cứu đói, cứu đau và cứu lạt muối; phong trào học văn hóa được chú trọng, từng bước hạn chế các phong tục tập quán có hại cho đoàn kết, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của nhân dân… Cùng với Đảng bộ huyện, đồng bào dân tộc xã Tu đã chuẩn bị một tư thế vững vàng để bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ gay go, quyết liệt, quyết tâm giải phóng đất nước, thống nhất hai miền Nam Bắc, mà trước mắt là đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ; che chở, nuôi giấu cán bộ, bộ đội dưới miền xuôi lên hoạt động hoặc chờ ngày tập kết ra miền Bắc.

Có một câu chuyện khá cảm động về tấm lòng của người người dân xã Tu với Bác Hồ lắng đọng, thân thiết đến mức thần thánh hóa. Cụ thể là ở làng Tak Nầm, xã Tu có ông già Noót, khi bộ đội ta tập kết lên vùng cao chuẩn bị chuyển quân ra miền Bắc, ông giữ được một tấm ảnh của Bác Hồ, lăn tròn lại cho vào ống nứa để ngoài chòi rẫy. Nhưng vì do sơ ý để ngược ống nứa lên nên bị nước mưa thấm vào làm lem hình ảnh cụ Hồ. Ông cho rằng đây là một sai lầm lớn, gìn giữ tấm ảnh của Bác mà cũng không xong, vì sợ nên ông phát bệnh sinh đau. Để sửa chữa sai lầm của mình, ông dùng phong tục tập quán địa phương, làm thịt con heo một thước, nấu 2 đốc rượu để cúng Bác và nhận sai lầm, xin Bác tha thứ; đồng thời ông cũng căn dặn người trong làng không nói sự việc này với cán bộ người Kinh. Do ý thức về mặt tâm lý làm đúng theo phong tục, nên bệnh tình của ông chóng khỏi. Lòng tin của đồng bào đối với Bác Hồ ngày càng sâu sắc hơn[23].

Chính vì lòng tin của đồng bào xã Tu như thế, năm 1956, một số cán bộ ở đồng bằng bị địch khủng bố, một số cán bộ khác tập kết ra Bắc bằng đường biển bị lộ nên phải chuyển hướng lên đường rừng. Nhưng vì đường dây ở các tuyến chưa thông nên hàng trăm cán bộ phải gửi vào 3 xã là xã Tu, xã Tập và xã Giác kéo dài trong ba tháng, đồng bào đã hết lòng giúp đỡ, đùm bọc cán bộ cách mạng cho đến khi đường được khai thông. Bên cạnh đó, để có muối, rựa cung cấp cho cán bộ lên đường ra Bắc, đồng bào đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh với địch đòi được trao đổi hàng hóa với đồng bằng lấy muối, rựa đem lại kết quả. Trong thời gian anh chị em cán bộ ở lại các xã miền núi, đồng bào các dân tộc thiểu số xã Tu được tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, hiểu rõ hơn về các âm mưu thâm độc của Mỹ - ngụy, càng căm thù chúng, do đó tinh thần quyết tâm tham gia kháng chiến được nâng lên. Cũng qua cán bộ cách mạng, một số người đã được học chữ viết phổ thông

Từ đầu năm 1956, trên địa bàn miền núi huyện Trà My, nạn “ăn đầu, trả đầu” diễn ra ngày càng nhiều giữa các làng, nguyên nhân là do địch âm mưu gây mất đoàn kết, chia rẽ đồng bào các dân tộc mà Đảng đã dày công xây dựng. Trước tình hình trên, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, tháng 8 năm 1956, nhân dân xã Tu tổ chức Đại hội đoàn kết các dân tộc. Đại hội được diễn ra tại Măng Rau, thời gian Đại hội một ngày. Thành phần tham dự đại hội lần này gồm đại diện thủ lĩnh giữa các làng lâu nay có sự hiềm khích, bất đồng với nhau. Tại Đại hội, đồng bào các dân tộc trong xã đã tổ chức uống máu ăn thề, xóa bỏ mọi hiềm khích giữa các làng có mâu thuẫn với nhau, giải quyết nạn “ăn đầu trả đầu” tồn tại trong một thời gian dài. Qua đại hội, nhờ giải thích rõ chủ trương về đại đoàn kết dân tộc của Đảng, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù nhằm chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc. Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng tin tưởng vào những chủ trương, đường lối của Đảng; xóa bỏ được những mâu thuẫn giữa các làng, quyết tâm đoàn kết một lòng chống lại đế quốc và tay sai.

Trong những tháng đầu năm 1957, dịch tả xảy ra trên diện rộng, nhất là vùng cao huyện Trà My, trong đó có xã Tu, làm một số người chết. Công tác phòng dịch gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chính là do việc nhận thức của đồng bào về vệ sinh phòng dịch còn hạn chế, nhất là trong sinh hoạt... Được sự chỉ đạo của cấp trên, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh vấn đề vệ sinh phòng dịch được cán bộ người Kinh và cốt cán thôn, nóc hướng dẫn thực hiện có hiệu quả, dịch tả từng bước được ngăn chặn và dập tắt. Từ đó, ý thức vệ sinh phòng dịch của đồng bào cũng được nâng lên.

Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, xây dựng tổ chức vững mạnh để đưa phong trào đấu tranh chống giặc ngày càng phát triển, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy Trà My, ngày 10 tháng 7 năm 1957, Chi bộ Đảng ở xã Tu được thành lập. Đồng chí Lý Văn Xích được Ban Thường vụ Huyện uỷ chỉ định làm Bí thư chi bộ, đồng chí Hồ Văn Di làm Phó Bí thư. Lúc đầu thành lập, Chi bộ gồm có 11 đảng viên, trong đó có 02 nữ[24]. Sự ra đời của Chi bộ xã Tu có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng của nhân dân trong xã, đánh dấu sự trưởng thành về tư tưởng và nhận thức cách mạng của đồng bào dân tộc xã Tu. Đây là tổ chức cơ sở Đảng đầu tiên, có vai trò đặt nền móng cho quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ xã Trà Mai về sau.

Sau khi chi bộ được thành lập, thực hiện chủ trương của Huyện ủy, chi bộ đã đẩy mạnh công tác lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch đưa quân lên đóng ở vùng cao Nam Trà My. Năm 1957, địch kéo quân lên đóng ở làng Tăk Lũ, Chi bộ đã nhanh chóng huy động nhân dân đấu tranh chính trị không có vũ trang nhằm chống lại quân đóng ở đồn Tak Lũ. Địch đã đàn áp đồng bào, chúng đốt làng Tak Lũ, làng Tak Teng, bắt bớ, tra tấn đồng bào. Nhân dân đã nhanh chóng bỏ làng, thu dọn dụng cụ, tài sản và rút vào rừng, thực hiện chiến lược “vườn không nhà trống”. Năm 1958, địch lại tiếp tục hành quân lên lập tề ở các xã Tu, Tập, Rây, Don và đóng đồn ở đây theo mùa, mùa nắng lên, mùa mưa rút về và cũng chỉ đóng vào mùa khô. Trước tình hình đó, Chi bộ đã tích cực vận động nhân dân, xây dựng lực lượng uy hiếp địch, đến tháng 8 năm 1959 địch buộc phải rút lui.

Ngày 4 tháng 5 năm 1958, Đại hội Chi bộ lần thứ I được tổ chức tại Tak Noong với 11 đảng viên. Đại hội vinh dự được đồng chí Phạm Xuân Thâm (Sáu Do), Huyện ủy viên đến dự và chỉ đạo. Đại hội đã tập trung phân tích những vấn đề mấu chốt như: Đánh giá, nhận xét đảng viên về tư tưởng, giác ngộ cách mạng. Đại hội nhận định: tập thể chi bộ và từng đảng viên đã nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng, luôn giữ vững lập trường quan điểm, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, không dao động trước sự mua chuộc, dụ dỗ của địch, kiên quyết đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược.

Từng đồng chí đảng viên đã làm tốt công tác dân vận, tuyên truyền đồng bào đoàn kết chống lại thực dân Pháp xâm lược; kiểm điểm quá trình lãnh đạo sản xuất, phục vụ cho cách mạng, ổn định đời sống nhân dân: Công tác sản xuất phục vụ cách mạng nhìn chung được đẩy mạnh nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu, năng suất các loại hoa màu và lương thực đạt thấp, ảnh hưởng đến công tác chi viện cho cách mạng, nhiều hộ dân vẫn thiếu đói. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, một số diện tích cây lương thực không thu hoạch được; nạn “ăn đầu trả đầu” diễn ra nhiều do nhân dân giữa các làng bị địch xúi giục, kích động, nhưng nhờ có chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng triển khai kịp thời đã giải quyết dứt điểm tình trạng mất đoàn kết giữa các làng, mọi hiềm khích cũ đã được xóa bỏ.

Đại hội đã đề ra Nghị quyết nhằm lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, đáp ứng nhu cầu về lương thực của nhân dân; đồng thời, đại hội cũng phát động phong trào góp lương thực phục vụ cách mạng như gạo, sắn, khoai, cau, quế..., bình quân mỗi gia đình góp 5 ang lúa, 3.000 gốc sắn và các loại lương thực khác.

Đại hội đã đề ra chủ trương xây dựng lực lượng dân quân du kích xã gồm 50 người, đồng chí Hồ Văn Rú làm Xã đội trưởng, đưa 15 thanh niên tham gia bộ đội[25]. Đây là lực lượng vũ trang nòng cốt của xã, làm chỗ dựa cho phong trào đấu tranh chống lại sự đàn áp của địch. Bên cạnh việc lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, củng cố đội ngũ cán bộ của xã, Chi bộ cũng quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, lựa chọn 08 học sinh ưu tú cho huyện gửi ra miền Bắc tham gia học tập tạo nguồn cán bộ phục vụ quê hương sau này. Đại hội đã bầu đồng chí Lý Văn Xích làm Bí thư Chi bộ, đồng chí Hồ Văn Dân làm Phó Bí thư.

Cuối năm 1958, nhằm chống lại bọn lái buôn người Kinh lên miền núi thông qua việc trao đổi, buôn bán để nắm bắt tình hình, chuẩn bị cho chiến dịch “Thượng du vận” của địch, đồng bào làng Tak Pỏ đã đứng ra vận động nhân dân các làng khác đồng tâm hiệp lực, kiên quyết không nghe theo sự xuối dục của bọn lái buôn người Kinh. Trong cuộc vận động ấy, cụ già Teng ở làng Tak Pỏ đã tích cực đến các làng có già làng, chánh tổng trước đây theo địch để vận động, uống máu ăn thề, quyết không nghe theo chính sách của Diệm. Nhờ đó, tình hình tư tưởng và niềm tin của đồng bào đối với cách mạng, với Đảng và Bác Hồ đã được củng cố, nhân dân các làng không bị địch mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ.[26]

Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam nhằm thực hiện mưu đồ chia rẽ giữa cách mạng và nhân dân qua chiến dịch: “Tố cộng và diệt cộng”. Tại Quảng Nam, nhất là đối với các vùng trung du và miền núi, sau khi thiết lập xong bộ máy ngụy quyền, địch bắt đầu thực hiện âm mưu thôn tính các vùng mà chúng cho là hậu phương của ta. Ngô Đình Diệm lập ra Nha công tác miền Thượng, tổ chức nhiều binh đoàn: “Bình định”, “Quân chính”, “Công dân vụ”. Dưới danh nghĩa là hoạt động “xã hội”, “dân vận” và “thân thiện”, địch đưa tình báo lên các vùng trung du và miền núi để truy tìm cơ sở cách mạng, đồng thời thông qua chiến dịch “Thượng du vận”, đưa quân lên càn quét để cưỡng ép dồn dân, ly khai nhân dân với cách mạng, lập chính quyền tay sai, bắt thanh niên đi lính, gây chia rẽ giữa đồng bào miền núi với miền xuôi...

Để chống lại âm mưu thâm độc của kẻ thù, đồng bào xã Tu đã dùng nhiều hình thức đấu tranh khôn khéo làm cho địch phải lúng túng. Khi địch vào làng mua heo, gà làm thực phẩm, dân làng đem phong tục kiêng cử trong mùa rẩy để cấm địch vào làng; địch bắt dân đi cõng gạo phục vụ các cuộc hành quân của chúng lên vùng cao, dân làng không đi với lý do phải đi rẩy, nếu bắt buộc phải đi thì địch phải trả công bằng vải vóc, muối rựa, nhất quyết không lấy tiền không tiêu thụ được. Ngụy đưa lái buôn người Kinh biết tiếng địa phương lên vận động lập ngụy quyền, đồng bào không nghe theo và không ai chịu nhận việc. Ban đêm, dân làng thường đốt đuốc, cùng với tiếng chiêng, tiếng la thét vang cả núi rừng nhằm uy hiếp tinh thần của địch. Vì không lập được ngụy quyền và không năm được dân ở miền núi, nên đầu năm 1959, địch dần dần rút quân về đồng bằng. Chiến dịch “Thượng du vận” bị thất bại.

Nhìn chung, thời kỳ từ tháng 7 năm 1954 đến đầu năm 1959, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức trước những âm mưu thâm độc của kẻ thù, cộng với thiên tai, mất mùa đã làm ảnh hưởng rất lớn đến phong trào cách mạng của huyện nhà nói chung và nhân dân xã Tu nói riêng. Chi bộ xã Tu đã từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, một mặt lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất lương thực, đảm bảo đời sống và phục vụ cách mạng; mặt khác, chú trọng xây dựng lực lượng kiên trì đấu tranh với địch, duy trì phong trào. Nhiều cơ sở trung kiên tỏ rõ tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường, tạo không khí cách mạng sôi sục và lòng căm thù giặc dâng cao. Đó là những cơ sở quan trọng để chuyển phong trào cách mạng sang giai đoạn mới.

II. THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 15 CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, CÙNG NHÂN DÂN TOÀN HUYỆN QUYẾT TÂM XÂY DỰNG TRÀ MY THÀNH HẬU CỨ VỮNG MẠNH CỦA CÁCH MẠNG (1959 - 1965)

Tháng 01 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại thủ đô Hà Nội ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong tình hình mới, khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân[27].

Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời đánh dấu sự chuyển biến chiến lược của cách mạng miền Nam nói chung, Liên khu 5 nói riêng. Để thực hiện Nghị quyết 15, Liên khu ủy 5 tìm địa điểm thích hợp để đóng cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo phong trào. Cuối năm 1959, bộ phận tiền trạm của khu từ Hiên (Đông Giang và Tây Giang ngày nay) vào Trà My khảo sát và xây dựng kho tàng, cơ quan; đầu năm 1960 toàn bộ cơ quan Liên khu ủy 5 chuyển vào đóng tại Nước Là (mật danh là Đỗ Xá[28]). Tại đây, Ban Quân sự Khu 5 cũng được thành lập. Chiến khu Nước Là là một khu vực rộng lớn bao gồm các xã Mai, Don, Vân, trong đó suối Nước Là thuộc địa bàn xã Trà Mai được chọn làm trung tâm của căn cứ. Phía Bắc có ngọn Hòn Bà cao. 1.347m, phía Tây có ngọn Ngọc Linh có độ cao 2.598m, là ngọn núi cao nhất tỉnh Quảng Nam. Vị thế của Nước Là nói riêng và Trà My nói chung là lưng dựa vào Tây Nguyên, nằm tiếp giáp giữa đồng bằng Quảng Ngãi và miền núi Kon Tum. Chung quanh khu vực Nước Là còn có nhiều đồi núi, sông suối chằng chịt: sông Tranh, sông Trường, sông Nước Vin, sông Nước Oa, sông Nước Xa… tạo nên địa bàn chiến lược quan trọng, thuận lợi cho việc bố phòng về mặt quân sự. Cơ quan Liên Khu ủy 5 đặt đại bản doanh ở bờ Bắc suối Nước Là, sau đó chuyển sang bờ Nam suối Nước Là; cơ quan Quân khu 5 đóng quân dọc ven bờ Nam suối Nước Là; các cơ quan hành chính của Liên Khu và Ban Cán sự miền Tây Quảng Nam được bố trí ở các khu vực xunh quanh Liên Khu ủy 5.

Nhằm chuẩn bị cho việc di chuyển cơ quan đến Trà My, Liên Khu ủy 5 đã chỉ đạo trực tiếp cho Huyện ủy Trà My tạo điều kiện và phục vụ cho Khu ủy một cách tốt nhất từ việc cung cấp lương thực, thực phẩm, giúp đỡ cơ quan dụng cụ sản xuất tự túc, xây dựng nhà cửa, nơi làm việc; cũng trong thời gian cuối năm 1959, để chuẩn bị cho việc đón lực lượng vũ trang từ miền Bắc vào, Huyện ủy đã chỉ đạo cho Chi bộ huy động lương thực trong nhân dân đóng góp cho Liên Khu ủy; đồng thời đẩy mạnh sản xuất lương thực đảm bảo đời sống sinh hoạt cũng như ủng hộ kháng chiến. Từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1960, nhân dân xã Tu đã đóng góp được hơn một trăm ang thóc, 2.000 gốc sắn, các loại bắp, khoai, rau màu để ủng hộ cho việc xây dựng khu căn cứ. Nhờ đó, những ngày đầu vào Nước Là, Liên Khu ủy 5 đã nhanh chóng ổn định, kịp thời đề ra đường lối để chỉ đạo, lãnh đạo nhân dân Liên khu 5 bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nhằm nâng cao dân trí, củng cố niềm tin và nhận thức về đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, cuối năm 1959, Ban Cán sự miền Tây Quảng Nam cử đồng chí Lê Văn Nam (tức Yêm) vào Trà My giúp địa phương, trước tiên là phiên âm chữ Cadong. Tăk Pỏ được Huyện ủy Trà My chọn làm vùng xây dựng âm chuẩn. Đến năm 1960, công tác phiên âm đạt được kết quả bước đầu. Huyện ủy Trà My liền xây dựng trường học tại Tak Pỏ, tổ chức chiêu sinh, vừa để phổ biến chữ Cadong, vừa rút kinh nghiệm nhằm hoàn chỉnh bộ chữ này. Sau lớp học, phong trào học chữ Cadong nhanh chóng phát triển, nhất là ở xã Tu. Để thúc đẩy phong trào, đồng thời để sử dụng chữ viết Cadong trong công tác tuyên truyền, vận động cách mạng trong quần chúng, Ban Cán sự miền Tây và Huyện ủy Trà My đã xây dựng và cho ra mắt tờ Pru Dương (Vùng lên) bằng chữ Cadong và chữ phổ thông. Nhờ có chữ viết bằng tiếng Cadong mà nhân dân xã Tu nhanh chóng tiếp cận và nhận thức sâu sắc hơn về đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng, góp phần đẩy mạnh phong trào cách mạng trên địa bàn xã Tu[29].

Trước đó, vào khoảng giữa năm 1959, ngụy quyền siết chặt bao vây kinh tế đối vùng kiểm soát của ta. Chúng ra lệnh cho các thương lái người Kinh và thương nhân ở quận lỵ Trà My không được đổi quế của đồng bào các dân tộc thiểu số bằng muối, rựa, chỉ được dùng rượu và các loại hàng hóa khác. Chính sách bao vây kinh tế của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, tháng 7 năm 1959, Huyện ủy phát động nhân dân toàn huyện tham gia đấu tranh chống lại âm mưu mới của địch, phong trào cách mạng xã Tu tiến tục được duy trì.

Đại hội chi bộ xã Tu lần thứ II được tiến hành vào đầu năm 1960, tại Măng Tu. Tham dự đại hội có 17 đảng viên. Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá tình hình lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lại các âm mưu chiếm đóng của Mỹ ngụy, giữ gìn, phát huy truyền thống yêu nước, nuôi dấu, bảo vệ cán bộ cách mạng. Trong 3 năm (1957 - 1959): lực lượng thanh niên tham gia dân quân ngày càng tăng lên, toàn xã thành lập được 3 trung đội dân quân du kích (gồm 90 người), mỗi thôn có một trung đội; các phong trào đấu tranh của đồng bào chống địch càn quét được đẩy mạnh; phong trào học văn hóa được phổ biến, việc dạy học tiếng phổ thông kết hợp với học tiếng Cadong được triển khai rộng rãi trong nhân dân và đạt hiệu quả cao; công tác bảo vệ mùa màng, tăng gia sản xuất đảm bảo lương thực được chú trọng; việc tổ chức vòng công, đổi công đạt kết quả; công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên được quan tâm thực hiện, qua phong trào cách mạng chi bộ phát triển được 07 đảng viên mới.[30]

Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong những năm đến gồm hai nội dung quan trọng như sau:

Một là, đẩy mạnh hoạt động tăng gia sản xuất, ổn định đời sống nhân dân; đồng thời, tổ chức huy động đóng góp lương thực phục vụ cách mạng, kháng chiến.

Hai là, chú trọng nâng cao cảnh giác, phòng chống và có phương án đấu tranh chống những đợt càn quét của địch; tập trung xây dựng lực lượng dân quân du kích xã vững mạnh về mọi mặt và bảo vệ căn cứ cách mạng an toàn.

Đại hội đã bầu đồng chí Lý Văn Xích làm Bí thư Chi bộ, đồng chí Hồ Văn Dân làm Phó Bí thư trực Đảng, đồng chí Hồ Văn Teng (Chước) làm Phó Bí thư.

Ngày 12 tháng 02 năm 1960, đồng chí Hồ Văn Dân được Huyện ủy chỉ  định làm Bí thư chi bộ thay cho đồng chí Lý Văn Xích được điều động lên công tác ở Huyện uỷ, đồng chí Hồ Văn Di làm Phó Bí thư.

Tháng 3 năm 1960, thực hiện chủ trương của cấp trên, Đảng bộ huyện Trà My lãnh đạo nhân dân xây dựng Trà My thành căn cứ địa vững chắc, góp phần vào việc làm chủ miền núi. Nhân dân xã Tu tham gia phong trào của toàn huyện kéo xuống xã Đốc đấu tranh chống địch cấm buôn bán các loại hàng hóa cho nhân dân vùng cao, hình thức đấu tranh chủ yếu là cõng quế xuống đòi địch phải để đồng bào tự do đổi quế lấy muối, rựa. Trong cuộc đấu tranh này, xã Tu có 06 người bị địch bắt giam (gồm các ông Đen, Brấc, Xang, Dây, Boat, Xót), tại xã Đốc ông Đinh Văn Xất là người hăng hái và đi tiên phong trong phong trào nên bị địch bắt và đánh đập rất dã man, chúng cho ông uống thuốc độc và thả về nhà, sau đó ông hy sinh.

Tháng 4 năm 1960, tại khu căn cứ Nước Là, Liên Khu ủy họp Hội nghị mở rộng kiểm điểm một năm thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương và quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Hội nghị đã nhận định:“Tương quan lực lượng giữa ta và địch lúc này chưa thay đổi cơ bản. Thế và lực địch còn đang mạnh nhưng tình hình đã bắt đầu chuyển biến có lợi cho ta hơn. Uy thế địch giảm sút, uy thế ta vươn lên, tuy chưa đều giữa các tỉnh. Cuộc đấu tranh đang trong giai đoạn giằng co quyết liệt, ta vừa tận dụng mọi khả năng đấu tranh chính trị, vừa tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa cướp chính quyền”. Và, quyết định:“Mạnh dạn phát động quần chúng ở căn cứ miến núi, tập trung chống đánh địch càn quét; đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang tập trung; khẩn trương xây dựng căn cứ địa miền núi; khôi phục và phát triển phong trào ở đồng bằng; chú ý công tác đô thị[31].

Tháng 9 năm 1960, Liên khu ủy 5 ra chỉ thị mở đợt hoạt động vũ trang toàn khu nhằm phát động quần chúng phá thế kìm kẹp, mở rộng căn cứ miền núi, phát triển vùng giáp ranh, đẩy hoạt động xuống đồng bằng, rút thanh niên xây dựng lực lượng, mở rộng các hành lang.

Cuối năm 1960, Chi bộ xã Tu đã tiến hành tổng kết, đánh giá tình hình hoạt động cách mạng trong năm qua. Chi bộ nhận định: về công tác nuôi quân, phục vụ cách mạng, toàn xã đã đóng góp 9.969 ang lúa, 4.480 ang bắp, 57.857 gốc sắn, 90 con heo và hàng ngàn con gà.[32]

Đầu năm 1961, thực hiện chủ trương của Khu ủy V, Huyện ủy Trà My đã tiến hành điều chỉnh ranh giới và lập thêm một số xã để thuận lợi trong công tác lãnh đạo kháng chiến, trong đó, huyện đã tách một số thôn của xã Tu nhập vào xã Giác, các thôn còn lại của xã Tu gọi là xã Mai.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và Ban Cán sự miền Tây Quảng Nam, vào tháng 01 năm 1961, huyện Trà My tiến hành Đại hội dân tộc nhằm tăng cường tình đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc trong huyện. Đại hội diễn ra tại làng Tak Pỏ, với hơn 550 đại biểu tham dự. Tại đại hội lần này, xã Mai được chọn làm xã kiểu mẫu về các phong trào hành động cách mạng cho các đại biểu về tham dự đại hội tham quan học tập.

Tháng 3 năm 1961, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình cách mạng mới, nhằm tăng cường sức người, sức của cho kháng chiến, tăng cường mối đoàn kết của đồng bào các dân tộc thiểu số, thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vào đầu năm 1960 đã đề ra, hai huyện Trà My và Phước Sơn được hợp nhất thành huyện Trà Sơn. Huyện Trà Sơn được chia thành 6 khu, xã Mai thuộc khu 5 gồm các xã: Rẫy, Don, Mai, Vân Nải. Ban Cán sự Đảng cũng được thành lập gồm có 03 đồng chí, do đồng chí Lê Đức Dũng (Lê Đạt) làm Bí thư, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy Trà Sơn (mật danh B.24).

Để tăng cường sức người, sức của ủng hộ kháng chiến, trong năm 1961, Chi bộ xã Mai đã phát động phong trào đóng góp lúa gạo, huy động thanh niên trong xã tham gia dân công tải đạn trên đường Trường Sơn. Toàn xã đã đóng góp được trên 5.000 ang lúa, hàng chục con trâu, heo, dê và hàng ngàn gùi rau các loại, góp phần đảm bảo lương thực cho bộ đội trên đường hành quân vào Nam. Tiêu biểu trong đợt đóng góp có dân ở các làng Tak Pỏ, Tak Chươm, Tak Raau, Tak Bót.

Phát hiện ở Nước Là là nơi cơ quan Liên Khu ủy 5[33] đóng quân, ngày 28 tháng 02 năm 1961, địch huy động 1 tiểu đoàn lính với sự yểm trợ của trực thăng đổ quân dọc theo 2 bên Nước Là nhằm đánh phá cơ quan, bao vây tiêu diệt lực lượng ta. Được sự chỉ đạo của cấp trên, tự vệ và nhân dân xã Mai đã tổ chức bố phòng, đào hầm chông, mai phục chờ địch lọt vào trận địa rồi tổ chức tấn công địch, kết quả có 5 tên địch bị cung, nỏ bắn chết tại chỗ và 11 tên bị thương, địch buộc phải bỏ dở cuộc hành quân.

Tháng 12 năm 1961, nhân dân, dân quân du kích hai xã Mai và Giác đã phối hợp tổ chức lực lượng đánh tan 01 trung đội bảo an của địch tại cứ điểm đồn Trại, bị quân ta tập kích bất ngờ nên địch hoảng