Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Lịch sử hình thành và phát triển của Đảng bộ huyện Trà My

Lượt xem: 97

Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và tiến hành mở rộng vùng xâm chiếm, chúng đã đưa quân lên Trà My hòng đàn áp và đặt ách cai trị tại đây nhưng đồng bào các dân tộc Trà My đã liên tục vùng lên chống lại chế độ cai trị tàn bạo của Thực dân Pháp; nhiều cuộc nổi dậy chống lại Thực dân Pháp như cuộc nổi dậy của đồng bào Cor ở Nú (1920); phong trào Nước Xu (1937-1938)... Các cuộc nổi dậy đó đã thể hiện tinh thần yêu nước quyết chống lại kẻ thù xâm lược của đồng bào Trà My trước khi có Đảng bộ huyện lãnh đạo. Các cuộc nổi dậy tuy có giành được thắng lợi nhưng không giữ được thắng lợi lâu dài và không giải phóng được đồng bào. Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ Quảng Nam đã có kế hoạch thành lập cơ sở Đảng ở miền núi Trà My để tiến tới thành lập Đảng bộ Trà My nhằm tập hợp đồng bào các dân tộc trong huyện đấu tranh chống lại Thực dân Pháp xâm lược và giành độc lập tự do.




Ảnh: Một góc trung tâm huyện Nam Trà My

Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, Uỷ Ban bạo động khởi nghĩa tỉnh cử một tiểu đội vũ trang lên Trà My vào ngày 22/8 và ngày 23/8 chính quyền về tay nhân dân. Từ đây Đảng và đồng bào các  dân tộc trong huyện gắn bó với nhau cùng kề vai sát cánh chống lại kẻ thù xâm lược. Tháng 12/1946 Phòng liên lạc Quốc dân thiểu số Trà My được hình thành là tổ chức cơ sở Đảng đầu tiên của huyện đây là quá trình chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng bộ Trà My. Phòng liên lạc Quốc dân thiểu số Trà My với những cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết đã hoạt động hết mình, sống gắn bó với đồng bào, núi rừng Trà My. Từ khi thành lập cho đến tháng 3/1947 Phòng liên lạc Quốc dân thiểu số Trà My đã xây dựng được chính quyền cách mạng ở các thôn xã trong huyện, vận động đồng bào các dân tộc đoàn kết, ủng hộ Đảng, cách mạng, ủng hộ Bác Hồ và được đa số đồng bào hết lòng ủng hộ. Phòng liên lạc Quốc dân thiểu số Trà My đã đứng ra tổ chức các buổi lễ ăn thề giữa các đồng bào trong huyện nhằm xoá bỏ những mối hiềm khích, đoàn kết với đồng bào kinh chống lại thực dân Pháp.

Ngày 19/3/1947 tại Uỷ Ban kháng chiến hành chính Châu Trà My, đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ - Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đại diện Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam triệu tập cuộc họp các đảng viên và thành lập Ban cán sự Đảng Châu Trà My. Từ đây công tác xây dựng cơ sở đảng được chú ý phát triển. Ban cán sự Đảng Châu Trà My đã tổ chức phong trào dạy học văn hoá ở Trà My để dạy chữ, dạy văn hoá cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đã đào tạo được khá nhiều học sinh những đảng viên, cán bộ dân tộc phục vụ cách mạng. Bên cạnh đó Ban cán sự Đảng vận động nhân dân tham gia xây dựng tuyến hành lang phục vụ chiến trường Bắc Tây Nguyên.

Sau khi Uỷ Ban kháng chiến hành chính và Ban cán sự Đảng Trà My thành lập; Tỉnh uỷ đã điều động tăng cường nhiều cán bộ đảng viên về huyện Trà My. Năm 1948 trong huyện có nhiều tổ chức cơ sở Đảng ra đời. Năm 1949 tình hình trong nước thuận tiện cho phong trào phát triển Đảng trong cả nước cũng có tác động thuận lợi tới việc phát triển Đảng ở Trà My. Từ con số 18 đảng viên (quý I- 1949) lên 35 đảng viên (quý II) và 67 đảng viên (quý III). Trước tình hình đó, ngày 28/10/1949, Tỉnh uỷ Quảng Nam ban hành Quyết định thành lập Đảng bộ Trà My, chỉ định đồng chí Trần Mịch làm Bí thư. Đảng bộ Trà My ra đời đã khẳng định sự chuyển biến rõ nét trong phong trào cách mạng của huyện; khẳng định sự chuyển biến về công tác xây dựng Đảng; đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc trong huyện.

1. Thời kỳ 1949 - 1954

Từ khi ra đời Đảng bộ Trà My luôn luôn chú ý quan tâm tới vấn đề xây dựng cơ sở Đảng ở các thôn xã; chú ý phát triển đảng viên người dân tộc thiểu số, vì thế số lượng đảng viên người dân tộc thiểu số không ngừng tăng lên, các chi bộ mới được hình thành như: Nú, Zút, Pui, Kót... có thể nói phong trào xây dựng phát triển Đảng ở vùng dân tộc thiểu số Trà My rất mạnh và được Đại hội Đảng bộ Quảng Nam- Đà Nẵng (2/1950) tuyên dương và đánh giá cao.

Đảng bộ Trà My ra đời đã lãnh đạo đồng bào trong huyện tiến hành xây dựng một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp; hướng dẫn các nghề thủ công cho đồng bào các dân tộc thiểu số; từng bước giúp đồng bào sản xuất các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt hằng ngày; chú trọng phát triển nghề rèn và dệt. Mở các lớp đào tạo cán bộ hành chính, cán bộ xã; vận động phong trào thi đua yêu nước, thi đua trong lao động sản xuất, trong học tập văn hoá... vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện đời sống mới loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, giữ gìn phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp mang đậm bản sắc văn hoá của đồng bào. Nhờ đó đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được cải thiện, có nhiều tiến bộ. Bên cạnh đó, Đảng Bộ Trà My cùng Uỷ Ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam còn chú trọng phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng đội dân quân của huyện. Huyện uỷ quyết xây dựng Trà My thành một bộ phận căn cứ địa miền núi của tỉnh, chỗ dựa quan trọng cho tỉnh bạn (Kon Tum) nhất là hai huyện Đăk Lay, Đăk Tô trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Dân quân du kích Trà My có những đóng góp to lớn trong kháng chiến và thường xuyên được tập huấn vì thế lực lượng vũ trang, lực lượng dân quân của huyện không ngừng lớn mạnh đủ sức đương đầu với kẻ thù.  

Năm 1950 Huyện uỷ Trà My tổ chức học tập chính sách dân tộc của Đảng cho cán bộ, đảng viên để nâng cao hơn nữa tinh thần đại đoàn kết dân tộc chống lại các âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù. Huyện uỷ quán triệt chính sách dân tộc của Đảng là: "đoàn kết, bình đẳng, tương trợ" và thấu suốt phương châm hoạt động của miền núi là:"kiên nhẫn, thận trọng, chắc chắn". Đến giữa năm 1950 Huyện uỷ thành lập ba đoàn cán bộ quân, dân, chính, đảng chuyên trách xây dựng ba vùng cao, trung, thấp trong huyện.

Tháng 3/1951 Đại hội Đại biểu Trà My tiến hành Đại hội lần I tại Trà Giang với 30 đại biểu đại diện cho tất cả các đảng viên trong huyện; đồng chí Trần Huệ được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Đại hội báo cáo tổng kết công tác xây dựng chính trị, đề ra phương hướng công tác cho thời gian tiếp theo; Đại hội nêu cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù, kêu gọi nhân dân sẵn sàng đấu tranh không cho địch mở rộng địa bàn hoạt động; đề ra kế hoạch bố phòng, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng dân quân du kích. Tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống cho đồng bào; chú trọng công tác xây dựng Đảng, tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên đi sâu hoạt động ở các vùng trọng yếu. Tháng 10/1951 Huyện uỷ tổ chức Hội nghị mở rộng bàn phương hướng tiếp tục xây dựng cơ sở ở vùng cao.

Năm 1953, Ban cán sự Miền Tây Quảng Nam được Liên Khu uỷ 5 thành lập và trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh ở Trà My; vì là địa bàn chiến lược quan trọng là vùng nối giữa đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi với chiến trường Tây Nguyên nên Trà My được Ban cán sự Miền Tây quan tâm chú ý xây dựng thành địa bàn chiến lược. Phong trào cách mạng của Trà My từ đó phát triển lên một bước mới điển hình và nổi tiếng là đợt vận động giải phóng gum, tề của các xã trong huyện ở chiến dịch Xuân Hè năm 1954.

Năm 1953-1954 Đảng bộ và nhân dân huyện Trà My tham gia xây dựng và phục vụ hành lang chiến trường Bắc Tây Nguyên trong chiến dịch Đông xuân 1953-1954; tham gia đào đắp khai thông hành lang, xây dựng các trạm dừng chân, kho tàng; huy động dân công vận chuyển hàng hoá, lương thực, đạn dược phục vụ cho chiến trường Tây Nguyên..... tất cả các hoạt động đó đã tạo nên khí thế cách mạng sôi nổi uy hiếp kẻ thù. Đảng bộ và nhân dân trong huyện còn vận động cùng nhau cứu đói, cứu lạt trong những ngày kháng chiến đầy cam go ác liệt.

Tháng 2/1954, bộ đội huyện Trà My phối hợp với lực lượng vũ trang Liên khu 5 tấn công đồn Ngok Spanh và thu được thắng lợi lớn; từ chiến thắng này Đảng bộ tiếp tục phát động đồng bào trong huyện vùng lên đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng quê hương. Công tác văn hoá, giáo dục, y tế được chú ý; đồng bào được học chữ quốc ngữ để xóa mù chữ; sản xuất nông nghiệp cũng có sự chuyển biến; trong huyện đã lập được nhiều tổ sản xuất, số lượng hội viên tổ sản xuất ngày càng tăng; đồng bào trong huyện chuyển dần từ du canh, du cư sang định canh, định cư.

Tháng 8/1954 Đảng bộ và nhân dân Trà My phấn khởi chào mừng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Niềm vui không được bao lâu đế quốc Mỹ xâm lược nước ta; Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Trà My cùng cả nước kiên cường đứng lên chống đế quốc Mỹ bảo vệ Tổ quốc.

2. Thời kỳ 1954- 1975

Ngày 20/7/1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết; sau Hiệp định chúng ta tuân thủ thi hành theo đúng các điều ước trong Hiệp định nhưng đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm đã phá hoại Hiệp định; chúng âm mưu biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Trước tình hình đó Đảng lại đề ra phương thức đấu tranh mới cho mỗi miền.

Sau ngày hoà bình lập lại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vào tiếp quản Đà Nẵng, Tam Kỳ và đưa quân lên Trà My. Trong bối cảnh đó, Huyện uỷ Trà My mở Hội nghị bàn việc chuyển hoạt động của Đảng bộ trong tình hình mới; Hội nghị nhận định tình hình địch và đề ra phương hướng đối phó; chuyển Đảng bộ vào hoạt động bí mật, chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị, từ bất hợp pháp sang hợp pháp và nửa hợp pháp. Đấu tranh đòi Mỹ - ngụy thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ, chống “tố cộng”, “diệt cộng”. Đảng bộ tuyên truyền cho đồng bào hiểu về Hiệp định và vận động đồng bào đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định vì thế phong trào đấu tranh của huyện lên cao điển hình là cuộc đấu tranh ở ngã ba An Lâu.

Năm 1955 Huyện uỷ Trà My đề ra những biện pháp cấp bách lãnh đạo phong trào đấu tranh ở vùng thấp, đề phòng địch tấn công lên vùng trung, vùng cao. Hội nghị nhận định tình hình và đề ra phương cách chống khủng bố, " tố cộng", "diệt cộng"; tranh thủ những tầng lớp tù trưởng, chánh tổng để đấu tranh với địch; Huyện uỷ bàn kế hoạch thực hiện chủ trương giữ vững thế an toàn miền núi của Ban cán sự Miền Tây Quảng Nam. Xây dựng Trà My thành chỗ dựa vững chắc cho Tam Kỳ và Tiên Phước trong kháng chiến chống Mỹ, vận động đồng bào tham gia mở hành lang Nam - Bắc phục vụ cho cuộc kháng chiến giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Năm 1956 Đảng bộ và nhân dân đấu tranh chống cướp bóc và gây chia rẽ đoàn kết dân tộc của địch, ổn định tình hình và vạch ra phương hướng tiếp tục phong trào đấu tranh chống lại kẻ thù. Đảng bộ và nhân dân Trà My đón nhận và học tập thư Bác Hồ, tổ chức học tập rộng rải từ trong Đảng đến quần chúng nhân dân; Đảng bộ tổ chức các đợt phê bình và tự phê bình trong Đảng viên.

 Năm 1957 địch âm mưu cản trở giao lưu kinh tế để gây nạn lạt muối và nạn thiếu công cụ lao động, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh năng chặn âm mưu của chúng, đấu tranh lên án địch giết dân; phát động cứu đói cho xã Pui, Đốc, Iếp, Cang, Tập,... Năm 1958 Huyện uỷ họp bàn kế hoạch phát triển Đảng ở miền núi theo chủ trương của Tỉnh uỷ.

Nhằm mở rộng và bình định miền Nam, địch đã mở chiến dịch "Thượng du vận", Đảng bộ lại lãnh đạo nhân dân trong huyện đấu tranh chống chiến dịch này của địch năm 1959 và đã thu được thắng lợi buộc chúng phải rút khỏi vùng trung, cao của Trà My.

Cuối năm 1959, Liên Khu ủy 5 chuyển từ huyện Hiên vào đứng chân tại Nước Là để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Trung và Tây nguyên, từ đây phong trào cách mạng huyện Trà My chuyển sang một giai đoạn mới. Năm 1960 Huyện uỷ tổ chức học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng, củng cố kiện toàn cấp uỷ để lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện chủ trương của Đảng, phát động phong trào đấu tranh vũ trang chống địch. Bên cạnh đó, Đảng bộ còn chú ý phát triển văn hoá, giáo dục đặc biệt là nghiên cứu và phiên âm thành công chữ Cadong, ra báo (tờ Pru Dương) bằng hai thứ chữ phổ thông - Cadong.

Lực lượng vũ trang của Trà My được Đảng bộ chú ý tổ chức xây dựng đã tích cực chuẩn bị cho các  cuộc khởi nghĩa vũ trang. Lực lượng vũ trang của huyện kết hợp với quân giải phóng tấn công các đồn Trà My, Đồng Trại, Phương Đông đã tiêu hao nhiều sinh lực địch và thu được thắng lợi; từ đây phong trào cách mạng ở Trà My chuyển sang thế tiến công.

Tháng 4/1961 huyện Trà My hợp nhất với huyện Phước Sơn thành huyện Trà Sơn, nhưng đến 1963 lại tách thành Trà My và Phước Sơn. Cuối năm 1961 một trung đội lực lượng vũ trang được sự ủng hộ của nhân dân Nước Oa - Trà My đã giải phóng Pui, Đốc. Trà My là một cứ điểm của Mỹ- ngụy ở phía Tây rất kiên cố, được bố phòng cẩn mật nhưng dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Quân khu V và sự quyết tâm của Đảng bộ, nhân dân Trà My đã tiến công tiêu diệt cứ điểm Trà My, kết quả trận đánh ta tiêu diệt được 54 tên, bắt sống 120 tên, thu nhiều quân trang, quân dụng. Chiến thắng Trà My có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng căn cứ của ta tạo thế bàn đạp tiến công xuống đồng bằng; chiến thắng này buộc Mỹ - nguỵ phải rút khỏi Trà My vào tháng 10/1964.

Tháng 3/1963 Tỉnh uỷ quyết định tách Trà My thành hai khu (tức hai Huyện Nam Trà My và Bắc Trà My), đồng chí Phạm Xuân Thâm được chỉ định làm Bí thư Huyện ủy Nam Trà My. Mặc dù chia tách nhưng hai Đảng bộ vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau lãnh đạo nhân dân hai huyện cùng tương trợ, hợp tác trong lao động sản xuất và chống lại các đợt càn quét của địch. Quân và dân xã Poa (nay là Trà Giáp) cùng với lực lượng vũ trang huyện đánh 5 trận loại khỏi vòng chiến đấu 267 tên, bắn rơi một máy bay. Các lực lượng du kích Trà My đã chiến đấu tiêu hao nhiều sinh lực địch, làm thất bại cuộc hành quân cuả Mỹ - ngụy lên vùng trung Trà My.

Cũng trong năm, Đảng bộ Nam Trà My đã triệu tập Đại hội Đại biểu bàn phương hướng thực hiện các chủ trương của Tỉnh uỷ và khu uỷ V, lãnh đạo nhân dân trong huyện thi đua lao động sản xuất và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đại hội bầu Ban Chấp hành mới, đồng chí Phạm Xuân Thâm được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Nam Trà My và Bắc Trà My tích cực tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất trong chiến đấu và đã đóng một lượng lớn lương thực và nuôi quân. Nam Trà My góp được 26.500 ang lúa và hàng trăm nghìn gốc sắn. Sang năm 1968 Đảng bộ và nhân dân Nam Trà My lại cùng nhau đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực cho cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Nam Trà My đóng góp được 27.000 ang lúa, 500.000 gốc sắn, 100.000 ngày công vận chuyển hàng hoá; Đảng bộ Nam Trà My chú ý phát triển phong trào du kích huyện cũng có công lớn trong cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân.

Năm 1969 Nam Trà My và Bắc Trà My được khu uỷ V chỉ đạo trực tiếp công tác lực lượng vũ trang, các mặt chiến đấu; Đảng bộ và nhân dân Nam Trà My tiếp tục đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống, ra sức thi đua trong lao động không để tình trạng đói xảy ra; chống lại những đợt rải hoá chất triệt hại hoa màu và cây lương thực do địch gây ra; kết quả đạt được trong năm của đồng bào Nam Trà My là đã trồng được 4126 ang lúa giống, 7.079.599 gốc sắn, 851.945 bụi chuối nước... thu hoạch 2.396,662 tấn lương thực tăng gấp đôi so với năm 1969. Đến tháng 12/1969 Đại hội Đại biểu Nam Trà My được tiến hành, Đại hội kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại biểu khoá trước và đề ra phương hướng nhiệm vụ cho khoá sau, đồng chí Nguyễn Văn Khương được bầu làm Bí thư. Đảng bộ Nam Trà My kết hợp với khu uỷ V chỉ đạo các lực lượng vũ trang trong huyện và nhân dân Bắc Trà My đánh bại âm mưu lập vành đai trắng của Mỹ - Nguỵ tại đây; dù có hy sinh tổn thất song Đảng bộ và nhân dân Nam Trà My đã đánh thắng âm mưu của địch. Tiếp đó sang năm 1971 Đảng bộ và nhân dân hai huyện Nam Trà My và Bắc Trà My cùng lực lượng vũ trang kết hợp với tiểu đoàn đặc công 409 của khu V tấn công cứ điểm xã Đốc, tiêu diệt 350 tên Mỹ, phá huỷ nhiều công sự, khí tài. Quân, dân Nam Trà My và Bắc Trà My cùng góp công sức đánh thắng cuộc hành quân "quyết thắng 20b" của địch, ở trận này quân và dân hai huyện dưới sự chỉ đạo của khu uỷ V đã tiêu diệt 1.200 tên địch bắn rời 10 máy bay, phá huỷ 7 Đại bác, 15 xe quân sự. Liên tiếp trên đà thắng lợi, quân dân Nam - Bắc Trà My dưới sự lãnh đạo của hai Đảng bộ lại tiếp tục đánh thắng cuộc hành quân càn quét bảo vệ cuộc bầu cử Tổng thống Nguỵ vào tháng 8-9/1970; bên cạnh đó việc sản xuất nông nghiệp trong vụ Đông xuân, vụ mùa thu được thắng lợi; tiếp tục phát triển mở rộng các lò rèn phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Bước sang năm 1971 địch tiếp tục càn quét vùng Trà My, chúng thường thả bom và bắn phi pháo vì thế đời sống nhân dân trong huyện vô cùng khó khăn, một số cán bộ quần chúng không chịu nổi khó khăn ác liệt đâm ra bi quan; trước tình hình đó Đảng bộ Nam Trà My nhận thức được sự dao động của một số cán bộ và đã chú ý hơn tới công tác xây dựng Đảng. Đảng bộ cho các Đảng viên, quần chúng nhân dân học tập Nghi quyết X và Nghị quyết xây dựng khu A của khu uỷ V, học tập Di chúc của Bác Hồ và điều đó đã nâng cao sự giác ngộ về chính trị, lập trường tư tưởng giai cấp, tính tiền phong gương mẫu của Đảng; cũng cố lại lập trường chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của người Đảng viên; các đảng viên, quần chúng đã chuyển biến về mặt tư tưởng, sẵn sàng chịu đựng khó khăn, ác liệt; các chi uỷ có sự nâng cao về năng lực lãnh đạo, chú ý phát triển đảng viên nữ, đảng viên trẻ tuổi...

Tháng 11/1971 Đại hội Đại biểu Đảng bộ Nam Trà My được triệu tập, Đại hội nêu ra những vấn đề đó là: tư tưởng tiến công và xây dựng căn cứ địa vững mạnh; vị trí vai trò nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng căn cứ địa vững mạnh; vị trí vai trò nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng căn cứ địa miền núi; đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất; xây dựng điểm và tăng cường đoàn kết nhất trí; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đại hội đề ra các mục tiêu và quyết tâm thực hiện bằng được các mục tiêu đề ra.

Năm 1973 Huyện uỷ Nam Trà My tổ chức hội nghị xây dựng kế hoạch sản xuất cho năm, quy hoạch vùng sản xuất và cây trồng để thuận lợi cho việc quản lý, sản xuất lương thực, thực phẩm trong Huyện; dự thảo kế hoạch sản xuất năm 1974. Đảng bộ và nhân dân Nam Trà My cùng với Bắc Trà My tham gia xây dựng đường giao thông trong huyện và đường giao thông chiến lược cách mạng từ Bắc vào Nam, từ miền núi xuống đồng bằng.

Sau Hiệp định Pari ngày 27/1/1973 Đảng bộ Nam Trà My lại tiếp tục quan tâm tới công tác phát triển đảng viên, số lượng đảng viên không ngừng được tăng lên vì thế Đảng bộ ngày càng lớn mạnh.

Tháng 4/1974 Đại hội Đai biểu Nam Trà My họp với 43 đại biểu đại diện cho 483 Đảng viên trong huyện; Đại hội tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tháng 2/1972 và nêu ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tiếp; Đại hội nhấn mạnh trong tầm quan trọng trong việc động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu, cùng cả nước đứng lên giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Vào đầu năm 1975 Đảng bộ và nhân dân Nam - Bắc Trà My tích cực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tất cả cán bộ Đảng viên , nhân dân đều sẵn sàng tham gia chiến dịch lịch sử này và đã giải phóng được nhiều vùng rộng lớn xung quanh như: đồn Phước Lâm, cứ điểm Tiên Minh, Suối Đá, cao điểm 211, giải phóng Tiên Phước, truy quét, gọi hàng ngụy quân, ngụy quyền; Đảng bộ và nhân dân Nam Trà My đã đóng góp một phần công sức của mình vào Đại thắng mùa xuân 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc Đảng bộ và nhân dân hai huyện Nam, Bắc Trà My vui mừng đón chào sự kiện miền Nam hoàn toàn giải phóng và tiếp tục đề ra các  nhiệm vụ phương hướng trong thời kỳ mới.

3. Thời kỳ từ 1975 đến 2003

Ngày 30/4/1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, nhân dân các dân tộc Nam, Bắc Trà My tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh.

Ngày 11/6/1975 hai huyện Nam - Bắc Trà My hợp nhất thành huyện Trà My. Sau ngày hợp nhất, Đảng bộ và đồng bào, nhân dân các dân tộc huyện Trà My đã ra sức đoàn kết phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Từ đó, đời sống đồng bào các dân tộc trong huyện đã từng bước được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần; văn hoá, y tế, giáo dục được chú trọng, cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến phù hợp với đặc điểm miền núi. Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được coi trọng và mở rộng. Đảng bộ huyện luôn quan tâm tới công tác phát triển Đảng viên mới là người dân tộc thiểu số, công tác xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng đạt “Trong sạch vững mạnh”, công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ có nhiều tiến bộ.



Tác giả: Ban Tuyên giáo Huyện ủy


[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn: